Trong trường hợp không có cải thiện hãy đi khám chuyên khoa thần kinh. Bạn cũng cần chú ý tới các hoạt động trước khi ngủ và phòng ngủ để đảm bảo không có yếu tố gây nhiễu cho giấc ngủ.
This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014
Mất ngủ thường xuyên - Nguy cơ bị đột quỵ?
Mất ngủ có thể chỉ là rối loạn chức năng thần
kinh trung ương tạm thời nhưng cũng có khi là bệnh mất ngủ thực sự. Mất
ngủ làm suy giảm chức năng thần kinh trung ương, dẫn đến kém tập trung,
chú ý, kém tư duy lôgic và giảm khả năng hoạt động sáng tạo. Bên cạnh
đó, mất ngủ có thể gây ra thay đổi tính cách tạm thời do sự rối loạn tạm
thời các kết nối thần kinh trong não bộ. Ngoài tác động trên thần kinh
trung ương, mất ngủ còn làm giảm khả năng hoạt động thể lực, gia tăng
nguy cơ tăng huyết áp, làm tăng sự căng thẳng thần kinh, dẫn tới suy
nhược thần kinh và suy nhược cơ thể. Mất ngủ kéo dài không trực tiếp gây
ra đột qụy não. Nhưng nó có thể gián tiếp gây ra hậu quả đột qụy não
thông qua các bệnh lý tim mạch như tăng huyết áp làm tăng nguy cơ đột
quỵ. Còn với hệ tim mạch, mất ngủ sẽ làm gia tăng nguy cơ tăng huyết áp
và rối loạn nhịp tim.
Để khắc phục tình trạng mất ngủ có thể cần thay đổi không khí làm
việc một thời gian để thay đổi nếp làm việc xem có hiệu quả tăng giấc
ngủ, cũng thử chơi thể thao hoặc thử chạy bền với quãng đường dài 5 -
6km (bạn cảm thấy mệt và mỏi nhừ chân). Nếu bạn có thể tăng thời lượng
ngủ lên thì đó chỉ là rối loạn tạm thời và rất dễ cải thiện.Trong trường hợp không có cải thiện hãy đi khám chuyên khoa thần kinh. Bạn cũng cần chú ý tới các hoạt động trước khi ngủ và phòng ngủ để đảm bảo không có yếu tố gây nhiễu cho giấc ngủ.
BS. Nguyễn Hùng Anh
Những thói quen có lợi cho não
Bạn có biết phong cách sống mà bạn lựa chọn ngay từ khi còn trẻ có thể ảnh hưởng khá lớn đến sức khỏe của não bộ khi bạn về già?
Đi du lịch
Bạn có thể cho rằng du lịch là một thú vui để thỏa mãn riêng bản thân mình. Tuy nhiên, thói quen này thực sự có thể giúp giảm nguy cơ sa sút trí tuệ. “Để não tiếp xúc với những môi trường mới lạ sẽ giúp não trở nên khỏe mạnh hơn”, Tiến sỹ (TS) Paul D. Nussbaum, chuyên gia tâm lý học thần kinh và đồng thời là phó giáo sư phụ tá phẫu thuật thần kinh tại ĐH Y Pittsburgh (Mỹ) cho biết.
Ngoài du lịch, các hoạt động như đọc sách, viết lách và học ngoại ngữ cũng là những phương pháp tốt mang lại thách thức và kích thích não bộ.
Tụ tập cùng bạn bè
Giờ đây, bạn không cần phải mặc cảm tội lỗi mỗi khi lén lút dành thời gian đi chơi và tụ tập với bạn bè. Theo TS Nussbaum thì việc chúng ta tạo dựng các mối liên hệ tình cảm với người khác sẽ giúp ngăn chặn chứng sa sút trí tuệ.
Ăn các loại hạt không ướp muối và cá béo
Khoảng 60% não bộ của chúng ta là chất béo. Chính vì thế, chúng ta cần phải ăn một số dạng chất béo để giúp não hoạt động tốt. Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng không phải tất cả các loại chất béo đều có tác dụng như nhau. Để mang lại sự hỗ trợ hiệu quả nhất cho não thì chúng ta nên ăn những chất béo lành mạnh – như chất béo có trong các loại hạt. Một điều cần lưu ý là nên tránh các loại hạt ướp muối vì chúng có thể làm tăng huyết áp – một tình trạng rất bất lợi cho não.
Ngoài ra, những loại cá béo như cá hồi, cá thu, cá trích, cá ngừ và cá mòi cũng là những nguồn cung cấp dồi dào loại chất béo lành mạnh. Vì thế, để não “nạp” được đủ lượng chất béo cần thiết, bạn nên ăn 2-3 phần thực phẩm này mỗi tuần.
Bữa ăn nhiều màu sắc
Các chất chống oxy hóa, vốn có nhiều trong trái cây và rau xanh, giúp cơ thể tránh khỏi một số bệnh gây ra do các gốc tự do. Đó là lý do vì sao TS Nussbaum khuyến khích chúng ta nên chuẩn bị những bữa ăn càng nhiều màu sắc càng tốt với sự hiện diện của trái cây, rau xanh.
Và mặc dù tất cả các loại trái cây và rau xanh đều có chứa các chất chống oxy hóa nhưng riêng quả mọng là có tác động tích cực nhất đối với nhận thức và sức khỏe não bộ.
Sống chậm hơn
Nhiều người có nhịp sống gấp gáp với thời gian hoạt động tích cực lên tới 18 tiếng mỗi ngày. Điều đó đồng nghĩa với việc não của chúng ta phải làm thêm giờ để theo kịp các nhu cầu của cuộc sống; và do đó, não có thể bị quá sức.
“Căng thẳng mạn tính có thể gây hại cho cơ thể và não bộ của chúng ta, và cũng có thể tác động lên tâm trạng cũng như chức năng nhận thức, đặc biệt là trí nhớ”, TS Nussbaun chia sẻ.
Vì thế, hãy cố gắng tạo ra những khoảng lặng cho bản thân mỗi ngày, dù chỉ trong vài phút, bằng cách loại bỏ khỏi đầu tất cả mọi nhiệm vụ và trách nhiệm. Hãy đi dạo, ngồi trên ghế đá công viên hoặc chơi một loại nhạc cụ nào đó.
Hoạt động thể chất
Hãy cố gắng sắp xếp thời gian để đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày, hoặc tham gia các hoạt động thể chất khác như khiêu vũ – vốn được chứng minh sẽ tăng cường độ minh mẫn cho não.
Hiểu rõ các chỉ số và thường xuyên kiểm tra sức khỏe
Theo TS Arendash thì cholesterol và huyết áp cao có liên quan với tăng nguy cơ các vấn đề về trí nhớ. Vì thế, hãy cố gắng kiểm soát các chỉ số sức khỏe càng sớm càng tốt.
Những lựa chọn phù hợp khi bạn đang ở độ tuổi 30, 40 hay 50 sẽ giúp
bạn tránh khỏi tình trạng mất trí nhớ do quá trình lão hóa và đồng thời
cũng giảm nguy cơ mắc các bệnh do tuổi già, ví dụ như bệnh Alzheimer.
Và dưới đây là 7 thay đổi bạn nên áp dụng ngay từ bây giờ vì sức khỏe
não bộ của mình trong tương lai:
|
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
|
Bạn có thể cho rằng du lịch là một thú vui để thỏa mãn riêng bản thân mình. Tuy nhiên, thói quen này thực sự có thể giúp giảm nguy cơ sa sút trí tuệ. “Để não tiếp xúc với những môi trường mới lạ sẽ giúp não trở nên khỏe mạnh hơn”, Tiến sỹ (TS) Paul D. Nussbaum, chuyên gia tâm lý học thần kinh và đồng thời là phó giáo sư phụ tá phẫu thuật thần kinh tại ĐH Y Pittsburgh (Mỹ) cho biết.
Ngoài du lịch, các hoạt động như đọc sách, viết lách và học ngoại ngữ cũng là những phương pháp tốt mang lại thách thức và kích thích não bộ.
Tụ tập cùng bạn bè
Giờ đây, bạn không cần phải mặc cảm tội lỗi mỗi khi lén lút dành thời gian đi chơi và tụ tập với bạn bè. Theo TS Nussbaum thì việc chúng ta tạo dựng các mối liên hệ tình cảm với người khác sẽ giúp ngăn chặn chứng sa sút trí tuệ.
Ăn các loại hạt không ướp muối và cá béo
Khoảng 60% não bộ của chúng ta là chất béo. Chính vì thế, chúng ta cần phải ăn một số dạng chất béo để giúp não hoạt động tốt. Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng không phải tất cả các loại chất béo đều có tác dụng như nhau. Để mang lại sự hỗ trợ hiệu quả nhất cho não thì chúng ta nên ăn những chất béo lành mạnh – như chất béo có trong các loại hạt. Một điều cần lưu ý là nên tránh các loại hạt ướp muối vì chúng có thể làm tăng huyết áp – một tình trạng rất bất lợi cho não.
Ngoài ra, những loại cá béo như cá hồi, cá thu, cá trích, cá ngừ và cá mòi cũng là những nguồn cung cấp dồi dào loại chất béo lành mạnh. Vì thế, để não “nạp” được đủ lượng chất béo cần thiết, bạn nên ăn 2-3 phần thực phẩm này mỗi tuần.
Bữa ăn nhiều màu sắc
Các chất chống oxy hóa, vốn có nhiều trong trái cây và rau xanh, giúp cơ thể tránh khỏi một số bệnh gây ra do các gốc tự do. Đó là lý do vì sao TS Nussbaum khuyến khích chúng ta nên chuẩn bị những bữa ăn càng nhiều màu sắc càng tốt với sự hiện diện của trái cây, rau xanh.
Và mặc dù tất cả các loại trái cây và rau xanh đều có chứa các chất chống oxy hóa nhưng riêng quả mọng là có tác động tích cực nhất đối với nhận thức và sức khỏe não bộ.
Sống chậm hơn
Nhiều người có nhịp sống gấp gáp với thời gian hoạt động tích cực lên tới 18 tiếng mỗi ngày. Điều đó đồng nghĩa với việc não của chúng ta phải làm thêm giờ để theo kịp các nhu cầu của cuộc sống; và do đó, não có thể bị quá sức.
“Căng thẳng mạn tính có thể gây hại cho cơ thể và não bộ của chúng ta, và cũng có thể tác động lên tâm trạng cũng như chức năng nhận thức, đặc biệt là trí nhớ”, TS Nussbaun chia sẻ.
Vì thế, hãy cố gắng tạo ra những khoảng lặng cho bản thân mỗi ngày, dù chỉ trong vài phút, bằng cách loại bỏ khỏi đầu tất cả mọi nhiệm vụ và trách nhiệm. Hãy đi dạo, ngồi trên ghế đá công viên hoặc chơi một loại nhạc cụ nào đó.
Hoạt động thể chất
Hãy cố gắng sắp xếp thời gian để đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày, hoặc tham gia các hoạt động thể chất khác như khiêu vũ – vốn được chứng minh sẽ tăng cường độ minh mẫn cho não.
Hiểu rõ các chỉ số và thường xuyên kiểm tra sức khỏe
Theo TS Arendash thì cholesterol và huyết áp cao có liên quan với tăng nguy cơ các vấn đề về trí nhớ. Vì thế, hãy cố gắng kiểm soát các chỉ số sức khỏe càng sớm càng tốt.
Theo Dân trí/ Womansday
Cách chăm sóc bệnh nhân Parkinson
Parkinson là một bệnh thoái hóa mạn tính
một số tổ chức ở não (thể vân, liềm đen), là nguyên nhân gây tàn phế ở
người lớn tuổi đứng hàng thứ hai sau các bệnh mạch não. Bệnh tiến triển
nặng dần và phải điều trị suốt đời, gây tốn kém cho gia đình và xã hội.
Triệu chứng
Bệnh diễn biến từ từ với triệu chứng nhanh mệt mỏi, máy cơ, đau mỏi cơ,… (đây là những triệu chứng không đặc trưng của bệnh).
Có 3 triệu chứng chính: run, cứng cơ (tăng trương lực cơ), giảm động tác.
Run: run khi nghỉ ngơi, run nhỏ, khoảng 4 - 8 lần trong một giây. Run mất khi ngủ và vận động chủ ý nhưng run tăng khi xúc động, mệt mỏi và khi cố gắng tập trung trí óc; run thường bắt đầu ở một bên và chủ yếu ở đầu ngón tay (cử động giống như đếm tiền hoặc vê thuốc lào), cũng có thể run ở chân.
Tăng trương lực cơ (cứng đờ): Lúc đầu cứng ở một bên của cơ thể, sau lan sang bên đối diện và cuối cùng là toàn thân dẫn đến các động tác bị ngừng lại hoặc ngập ngừng khi khởi động.
Giảm động tác: người bệnh ít chớp mắt; giảm điệu bộ với nét mặt không diễn cảm; giảm vung tay khi đi; khó khăn thực hiện được các động tác xen kẽ nhanh như sấp ngửa bàn tay…
Những rối loạn vận động biểu hiện: khi đi, bước từng bước nhỏ với giậm chân lúc khởi động; chữ viết nhỏ; nói khó đơn điệu…
Các triệu chứng khác: hồi hộp trống ngực, vã mồ hôi, rối loạn giấc ngủ, táo bón, đau mỏi các khớp, đau lưng, bất lực ở nam giới, rối loạn cơ tròn bàng quang, trầm cảm (buồn bã, chán nản)… đến giai đoạn cuối bệnh nhân có thể có khó thở và khó nuốt, thể trạng suy kiệt.
Ðiều trị bệnh
Mục đích điều trị: làm giảm các triệu chứng của bệnh như run, cứng, giảm động tác… chứ không phải điều trị làm hết hẳn các triệu chứng để hạn chế tối đa tác dụng phụ của thuốc. Nâng thể trạng.
Phương pháp điều trị: bệnh cần được điều trị suốt đời, gồm liệu pháp dùng thuốc và không dùng thuốc.
Liệu pháp không dùng thuốc: bên cạnh việc dùng thuốc, hồi phục chức năng có một vai trò quan trọng giúp cho người bệnh nâng cao chất lượng cuộc sống, bao gồm tập phục hồi chức năng vận động, ngôn ngữ, tập thể dục, đi bộ...
Điều trị phẫu thuật: Ngày nay, với sự phát triển của y học, ở các nước tiên tiến, người ta có thể áp dụng phương pháp điều trị phẫu thuật (kích thích hoặc phá hủy một số tổ chức ở não hoặc cấy ghép tế bào gốc) trong những trường hợp bệnh giai đoạn cuối, không đáp ứng với thuốc điều trị.
Chăm sóc bệnh nhân Parkinson như thế nào?
Chế độ ăn: Bệnh nhân cần được ăn đủ chất, thức ăn dễ tiêu, nhiều hoa quả, rau xanh, uống nhiều nước tránh táo bón.
Chế độ vệ sinh: vệ sinh thân thể, răng miệng…
Chế độ tập luyện: tập luyện và vận động hằng ngày. Các hoạt động thường xuyên sẽ làm hệ cơ mạnh và dẻo dai hơn. Đi bộ là một trong những phương pháp tập luyện tốt nhất và cùng với việc dùng thuốc nó giúp cho sự linh hoạt của cơ thể người bệnh tăng lên.
Một số động tác tập luyện đơn giản:
Đi bộ và xoay người: đi theo đường thẳng, bước từng bước dài và dạng tách hai chân để giữ thăng bằng tốt hơn, đong đưa hai tay đều đặn, khi cần xoay lại hãy đi thành đường cung tròn.
Tập “đi” khi đang ngồi: ngồi trên ghế có lưng tựa, lần lượt nhấc đầu gối phải và trái lên cao như khi đang đi bộ. Lặp lại động tác này 10 lần.
Ngồi lên khỏi giường khi đang nằm: xoay người nằm nghiêng và co hai đầu gối lại. Trước tiên, đặt hai chân ra khỏi giường sau đó dùng hai tay để chống trên mặt giường để ngồi dậy.
Kéo vai: ngồi hoặc đứng với lưng thẳng đứng, hai tay để phía trước, hai bàn tay và hai khuỷu tay áp sát nhau. Đưa hai tay ra hai bên càng xa càng tốt sao cho hai bả vai sau lưng co lại gần nhau. Đưa tay về vị trí cũ ở trước mặt. Lặp lại động tác này 10 lần.
Đứng lên và ngồi xuống: chọn những loại ghế tựa có tay vịn và chỗ ngồi chắc chắn. Khi muốn đứng lên phải nghiêng người về phía trước và dùng hai tay vịn vào bờ ghế để đẩy lên. Khi muốn ngồi xuống, quay lưng về phía ghế và nghiêng người về phía trước rồi từ từ ngồi xuống, dùng hai tay vịn trên tay nắm của ghế.
Động tác vặn người:Ngồi trên ghế, hai tay để trên vai và xoay phần trên của cơ thể từ phải qua trái và ngược lại. Làm càng nhanh càng tốt. Lặp lại động tác này 10 lần.
Triệu chứng
Bệnh diễn biến từ từ với triệu chứng nhanh mệt mỏi, máy cơ, đau mỏi cơ,… (đây là những triệu chứng không đặc trưng của bệnh).
Có 3 triệu chứng chính: run, cứng cơ (tăng trương lực cơ), giảm động tác.
Run: run khi nghỉ ngơi, run nhỏ, khoảng 4 - 8 lần trong một giây. Run mất khi ngủ và vận động chủ ý nhưng run tăng khi xúc động, mệt mỏi và khi cố gắng tập trung trí óc; run thường bắt đầu ở một bên và chủ yếu ở đầu ngón tay (cử động giống như đếm tiền hoặc vê thuốc lào), cũng có thể run ở chân.
Tăng trương lực cơ (cứng đờ): Lúc đầu cứng ở một bên của cơ thể, sau lan sang bên đối diện và cuối cùng là toàn thân dẫn đến các động tác bị ngừng lại hoặc ngập ngừng khi khởi động.
Giảm động tác: người bệnh ít chớp mắt; giảm điệu bộ với nét mặt không diễn cảm; giảm vung tay khi đi; khó khăn thực hiện được các động tác xen kẽ nhanh như sấp ngửa bàn tay…
Những rối loạn vận động biểu hiện: khi đi, bước từng bước nhỏ với giậm chân lúc khởi động; chữ viết nhỏ; nói khó đơn điệu…
Các triệu chứng khác: hồi hộp trống ngực, vã mồ hôi, rối loạn giấc ngủ, táo bón, đau mỏi các khớp, đau lưng, bất lực ở nam giới, rối loạn cơ tròn bàng quang, trầm cảm (buồn bã, chán nản)… đến giai đoạn cuối bệnh nhân có thể có khó thở và khó nuốt, thể trạng suy kiệt.
|
|
Mục đích điều trị: làm giảm các triệu chứng của bệnh như run, cứng, giảm động tác… chứ không phải điều trị làm hết hẳn các triệu chứng để hạn chế tối đa tác dụng phụ của thuốc. Nâng thể trạng.
Phương pháp điều trị: bệnh cần được điều trị suốt đời, gồm liệu pháp dùng thuốc và không dùng thuốc.
Liệu pháp không dùng thuốc: bên cạnh việc dùng thuốc, hồi phục chức năng có một vai trò quan trọng giúp cho người bệnh nâng cao chất lượng cuộc sống, bao gồm tập phục hồi chức năng vận động, ngôn ngữ, tập thể dục, đi bộ...
Điều trị phẫu thuật: Ngày nay, với sự phát triển của y học, ở các nước tiên tiến, người ta có thể áp dụng phương pháp điều trị phẫu thuật (kích thích hoặc phá hủy một số tổ chức ở não hoặc cấy ghép tế bào gốc) trong những trường hợp bệnh giai đoạn cuối, không đáp ứng với thuốc điều trị.
Chăm sóc bệnh nhân Parkinson như thế nào?
Chế độ ăn: Bệnh nhân cần được ăn đủ chất, thức ăn dễ tiêu, nhiều hoa quả, rau xanh, uống nhiều nước tránh táo bón.
Chế độ vệ sinh: vệ sinh thân thể, răng miệng…
Chế độ tập luyện: tập luyện và vận động hằng ngày. Các hoạt động thường xuyên sẽ làm hệ cơ mạnh và dẻo dai hơn. Đi bộ là một trong những phương pháp tập luyện tốt nhất và cùng với việc dùng thuốc nó giúp cho sự linh hoạt của cơ thể người bệnh tăng lên.
|
Thăm khám cho bệnh nhân Parkinson.
|
Đi bộ và xoay người: đi theo đường thẳng, bước từng bước dài và dạng tách hai chân để giữ thăng bằng tốt hơn, đong đưa hai tay đều đặn, khi cần xoay lại hãy đi thành đường cung tròn.
Tập “đi” khi đang ngồi: ngồi trên ghế có lưng tựa, lần lượt nhấc đầu gối phải và trái lên cao như khi đang đi bộ. Lặp lại động tác này 10 lần.
Ngồi lên khỏi giường khi đang nằm: xoay người nằm nghiêng và co hai đầu gối lại. Trước tiên, đặt hai chân ra khỏi giường sau đó dùng hai tay để chống trên mặt giường để ngồi dậy.
Kéo vai: ngồi hoặc đứng với lưng thẳng đứng, hai tay để phía trước, hai bàn tay và hai khuỷu tay áp sát nhau. Đưa hai tay ra hai bên càng xa càng tốt sao cho hai bả vai sau lưng co lại gần nhau. Đưa tay về vị trí cũ ở trước mặt. Lặp lại động tác này 10 lần.
Đứng lên và ngồi xuống: chọn những loại ghế tựa có tay vịn và chỗ ngồi chắc chắn. Khi muốn đứng lên phải nghiêng người về phía trước và dùng hai tay vịn vào bờ ghế để đẩy lên. Khi muốn ngồi xuống, quay lưng về phía ghế và nghiêng người về phía trước rồi từ từ ngồi xuống, dùng hai tay vịn trên tay nắm của ghế.
Động tác vặn người:Ngồi trên ghế, hai tay để trên vai và xoay phần trên của cơ thể từ phải qua trái và ngược lại. Làm càng nhanh càng tốt. Lặp lại động tác này 10 lần.
BS. KHÚC THỊ NHẸN (Khoa Thần kinh - Bệnh viện E Hà Nội)
Thực phẩm giúp giảm lo âu
Trong cuộc sống hiện đại, nếu không có lối sống cân bằng sẽ rất
dễ bị stress. Nhưng nếu không may bị stress, bạn cũng chớ lo lắng vì
stress có thể được loại bỏ dần nếu bạn biết cân bằng lịch sinh hoạt,
nhịp sống và chú ý tới việc lựa chọn thực phẩm.
Tăng bạn...
|
|
Theo nhiều nghiên cứu, các thực phẩm
chúng ta dùng hàng ngày không chỉ đóng vai trò rất lớn tới sức khỏe mà
còn tới cả cảm xúc nữa. Tốt nhất, những người luôn làm việc căng thẳng,
cơ thể yếu ớt, tinh thần không được mạnh mẽ nên tăng cường các thực phẩm
là “kẻ thù” của stress sau đây:
Rau xanh và trái cây:
Do giàu vitamin và khoáng chất, rau xanh và trái cây sẽ giúp cơ thể bạn
mạnh khỏe hơn, sức đề kháng được tăng cường rõ rệt, bạn sẽ dễ dàng vượt
qua được sự mệt mỏi, căng thẳng trong cuộc sống. Trong các loại rau
trái, nên ưu tiên chuối, cam, quýt, bưởi, bơ, dâu, khoai tây, các loại
rau cải và đậu vì các rau trái này rất giàu vitamin nhóm B, vitamin C,
vitamin E, beta-caroten, magiê, kali, canxi, magnesium, carbon-hydrat
hỗn hợp, các acid amin và serotonin - những chất chống stress rất tốt.
Sữa ít béo và các chế phẩm từ sữa ít béo:
Vì đây là nguồn cung cấp vitamin B, kẽm, canxi rất lý tưởng nên giúp cơ
thể chống chọi rất tốt với các tác động về tâm lý và thể chất.
Tinh bột:
Gạo lức, bột mì, bột ngũ cốc, yến mạch, lúa mì... chứa các chất dinh
dưỡng rất quan trọng cho nhu cầu hằng ngày của cơ thể. Chúng cung cấp
magiê, kẽm, vitamin B, canxi, carbon-hydrat hỗn hợp và acid amino, không
chỉ cung cấp năng lượng cho cơ thể mà còn đủ sức xua tan mệt mỏi, uể
oải và cân bằng tâm lý rất tốt.
Các loại hạt:
Cung cấp thêm lượng acid béo cần thiết cho cơ thể. Ngoài ra, trong các
loại hạt cũng rất giàu magiê, kẽm, selen, canxi, vitamin B, vitamin E.
Cá và các loại tôm cua: Giàu kẽm, vitamin B, selen, acid béo, acid amino.
Bớt thù
Ngoài việc tăng cường các thực phẩm kể
trên, chúng ta nên hạn chế các thực phẩm làm gia tăng tình trạng căng
thẳng, mệt mỏi do hấp thu các năng lượng và chất dinh dưỡng dự trữ trong
cơ thể hoặc sản sinh ra các hormon gây stress, làm cho hệ thần kinh bị
kích thích, đó là:
Thực phẩm chế biến sẵn và thức ăn nhanh:
Thịt hun khói, xúc xích... không chỉ nhiều mỡ, nhiều carbonhydrat, ít
dưỡng chất mà còn có thêm một số hóa chất bảo quản, nếu dùng nhiều không
chỉ gây béo phì, hại hệ thống tim mạch và tiêu hóa mà còn làm cho hệ
thần kinh bị kích thích mạnh.
Đường tinh chế và carbonhydrat:
Hai chất này làm tăng hàm lượng đường trong máu, tạo thêm áp lực cho
gan, đồng thời phá vỡ sự cân bằng hàm lượng insulin trong cơ thể. Tất cả
gây nên sự bất ổn định về mặt tâm lý, hay lo lắng, mệt mỏi.
Caffeine:
Có trong trà, cà phê, sôcôla và một số loại thức uống có ga. Caffeine
hoạt động như một chất kích thích thúc đẩy quá trình trao đổi chất và
giải phóng các hormon gây stress như adrenalin, cortisol...
Đồ uống có cồn: Các loại thức uống chứa cồn thường có tác dụng
lợi tiểu nhưng lại nhanh chóng tiêu thụ hết các chất dinh dưỡng dự trữ
đóng vai trò sống còn trong việc phòng chống stress như vitamin B, magiê
và kẽm.
BS. Cẩm Nga
Cách phòng ngừa rối loạn tiền đình
Người phụ nữ ngồi trong phòng khám với
vẻ mặt đầy mệt mỏi, lo lắng và sợ hãi. Chị mô tả lại cho bác sĩ những
triệu chứng như chóng mặt, cảm giác bồng bềnh, đôi lúc như bị xoay giật,
như bị nhấn chìm trong những cơn sóng, buồn nôn... Sau cơn, người bệnh
cảm thấy đầu đau nhức, cảm giác mệt mỏi tràn đến, cơ thể rũ rượi, mặt
xanh như tàu lá... Bác sĩ chẩn đoán chị bị hội chứng tiền đình. Vậy làm
thế nào để thoát khỏi nỗi ám ảnh này?
Vì sao rối loạn tiền đình?
Tiền đình là một bộ phận cơ thể nằm sâu
trong tai, có nhiệm vụ chính là giữ thăng bằng cho cơ thể. Khi chúng ta
di chuyển, cúi, xoay... hệ thống tiền đình cũng sẽ nghiêng lắc theo các
động tác này của cơ thể và giúp cơ thể có tư thế thăng bằng. Hệ thống
tiền đình được điều khiển bởi các nhóm thần kinh cao cấp hơn nằm trong
não bộ.
Ốc tai - vị trí xảy ra rối loạn tiền đình.
Rất nhiều bệnh lý của hệ tiền đình ốc
tai có thể gây rối loạn tiền đình. Y khoa thường chia làm hai nhóm
nguyên nhân chính là rối loạn tiền đình trung ương hay rối loạn tiền
đình ngoại biên. Sự phân loại này nhằm giúp thầy thuốc dễ dàng hơn trong
việc chẩn đoán và điều trị. Ngoài những trường hợp có nguyên nhân rõ
ràng như viêm tai, chấn thương tai, xuất huyết tai trong... có một tỷ lệ
khá lớn rối loạn tiền đình không có nguyên nhân rõ rệt. Có những người
do đặc tính giải phẫu khác biệt sẽ rất nhạy cảm khi môi trường thay đổi
và dễ bị hội chứng rối loạn tiền đình hơn người khác.
Biểu hiện của hội chứng tiền đình
Hội chứng tiền đình thường xuất hiện với
cơn cấp tính. Cơn có thể tự xuất hiện hay khi người bệnh bị một yếu tố
thuận lợi nào đó kích thích, như nghe tiếng động mạnh, âm thanh lớn khó
chịu, cãi vã, xung đột, đi xa trên các phương tiện giao thông... Triệu
chứng thường gặp là chóng mặt chao đảo, thấy mọi vật như xoay vần, buồn
nôn, nôn. Nặng hơn có thể có các triệu chứng mất thăng bằng không giữ
được tư thế, bước đi khó khăn, dễ ngã... Cơn chóng mặt sẽ tăng nếu cử
động hay xoay đầu nhanh. Cơn rối loạn tiền đình thường xảy ra từng đợt,
rất dễ tái phát khi nguyên nhân gây rối loạn tiền đình chưa được giải
quyết.
Những cơn chóng mặt của hội chứng tiền
đình làm người bệnh rất khó chịu, đôi khi họ không dám đi xa, không dám
ngồi trên các phương tiện giao thông vì luôn lo sợ xuất hiện cơn rối
loạn tiền đình. Hơn nữa người bệnh thường hay bị mệt mỏi, có xu hướng
ngại di chuyển, hạn chế tiếp xúc với môi trường bên ngoài. Điều này càng
làm nặng thêm bệnh và lâu ngày có thể dẫn tới hội chứng trầm cảm rất
khó chữa trị.
Điều trị
Điều trị hội chứng tiền đình được chú ý
vào việc hướng dẫn người bệnh biết cách xử lý cơn cấp tính, thầy thuốc
giúp phát hiện và điều trị nguyên nhân cùng với hướng dẫn người bệnh tập
luyện để phòng cơn tái phát.
Một số nguyên tắc trong điều trị
Phòng ngừa khi tiếp xúc với nguy cơ hay
thay đổi tư thế: Người dễ bị hội chứng tiền đình thường phải dùng thuốc
phòng ngừa trước khi đi tàu xe. Nên tránh tập trung vào các dấu hiệu của
bệnh bằng cách chú ý vào một việc khác như nghe nhạc, kể chuyện vui,
thậm chí nếu ngủ được thì càng tốt. Ngoài ra, có những biện pháp tự kỷ
ám thị cũng giúp tránh xuất hiện cơn như dán cao, bôi dầu... Trước khi
đi chỉ ăn nhẹ, không ăn nhiều chất nặng mùi hay quá no.
Khi không tự kiềm chế được, phải biết xử
lý tốt cơn chóng mặt cấp tránh tai nạn cho bệnh nhân. Phải ngưng điều
khiển các phương tiện có động cơ hay những công việc nguy hiểm. Có thể
dùng thuốc chống nôn hay cắt cơn. Loại bỏ ngay các dụng cụ để chứa chất
nôn vì có thể là yếu tố gây kích thích nôn tiếp. Nên cho bệnh nhân ngồi ở
vị trí thoáng gió, chắc chắn, tránh di chuyển vì rất dễ ngã gây chấn
thương. Sau cơn có thể cho dùng thêm ít nước đường hay khoáng chất. Khi
cơn nặng kéo dài, nhất là những trường hợp có nguyên nhân bệnh của tai
mũi họng hay não cần nhập viện để được điều trị tích cực hơn.
Điều trị tích cực để loại bỏ nguyên nhân
gây hội chứng tiền đình... như những bệnh của tai mũi họng (viêm, thoái
hóa, bệnh về mạch máu...), bệnh của não bộ (thoái hóa, tai biến mạch
máu não...), các nguyên nhân được cho là yếu tố nguy cơ làm tăng cơ hội
bị chóng mặt và rối loạn tiền đình (tăng huyết áp, hạ đường huyết, hay
khi dùng một số thuốc gây tổn hại cho cơ quan tiền đình ốc tai...).
Luyện tập tránh tái phát: Có nhiều biện
pháp luyện tập cho hệ thống tiền đình thích nghi dần với sự thay đổi tư
thế nhanh, như những người mới đi biển trong những lần đầu thường bị
chóng mặt, nôn dữ dội nhưng lâu dần sẽ quen. Tập tư thế đầu xoay nhẹ
nhàng giúp tăng cung cấp máu và quen với sự thay đổi tư thế.
Người bệnh bị hội chứng rối loạn tiền
đình nhiều lần nên đi khám để được hướng dẫn tập những bài vật lý trị
liệu giúp bù trừ sự mất cân bằng của hệ thống tiền đình. Bài tập sẽ giúp
gia tăng sự thích nghi với việc thay đổi tư thế, tăng khả năng duy trì
thăng bằng khi đứng, đi, lắc lư hay xoay chuyển. Những bài tập sẽ thường
bắt đầu với tốc độ chậm, xoay chuyển ít, sau đó nhanh dần và độ xoay
chuyển ngày càng rộng hơn. Những bài tập này đã được chứng minh là rất
có lợi cho sự thích nghi của hệ thống tiền đình với thay đổi tư thế theo
thời gian. Nhiều người bệnh thậm chí có thể bỏ hẳn thuốc sau một thời
gian tập luyện kiên trì.
Nhìn chung, mặc dù không gây nguy hiểm
trực tiếp đến tính mạng bệnh nhân, nhưng rối loạn tiền đình ảnh hưởng
khá nhiều đến chất lượng cuộc sống cả về thể chất lẫn tinh thần của
người bệnh. Việc điều trị thường rất cần đến sự kiên trì của bệnh nhân,
vì không thể đạt kết quả trong một thời gian ngắn. Để phòng ngừa nguy
hiểm, người bị hội chứng rối loạn tiền đình tránh chọn các công việc
liên quan đến độ cao, máy móc... Khi cơn xuất hiện nhẹ, có thể tập cách
tự xử lý, nhưng nếu cơn nặng và kéo dài hay lặp lại nhiều lần, cần thiết
phải thăm khám ở chuyên khoa Nội thần kinh để được tư vấn và điều trị
đúng cách. Ngoài việc điều trị bằng thuốc và tập luyện như đã nêu ở
trên, yếu tố trị liệu bằng tâm lý cũng đóng vai trò quan trọng trong
hiệu quả điều trị. Tinh thần sảng khoái vui tươi, tâm lý nhẹ nhàng thư
giãn, không có những căng thẳng lo âu sợ hãi... sẽ giúp cơn rối loạn
tiền đình ít xuất hiện hơn.
BsCKII. Lưu Xuân Thu
Viêm tủy cắt ngang - Bệnh hiếm gặp, khó chẩn đoán
Viêm tủy cắt ngang là một
loại bệnh lý tương đối hiếm gặp với các tổn thương viêm ở tủy sống dẫn đến các
triệu chứng như yếu cơ, rối loạn cảm giác và chức năng hệ thần kinh giao cảm...
Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thường gặp ở trẻ từ 5 - 15 tuổi, nguyên nhân
không rõ ràng nhưng thường kết hợp với bệnh nhiễm virut không đặc hiệu.
Thủ phạm gây bệnh
Có một số yếu tố được cho là
nguyên nhân của viêm tủy cắt ngang như: nhiễm một số loại virut có phát ban:
Rubeola, Variola, Varicella, Rubella, Influenza, quai bị. Nhiễm vi khuẩn
Mycoplasma cũng có khả năng gây viêm tủy cắt ngang. Vi khuẩn và virut làm tổn
thương tủy sống theo hai cơ chế: trực tiếp lên các khoanh tủy và gián tiếp theo
cơ chế phức hợp miễn dịch. Hai cơ chế này có thể riêng rẽ hoặc phối hợp cùng
nhau.
Tổn thương viêm tủy cắt ngang
trên phim cộng hưởng từ.
Virut Rubella là nguyên nhân
gây viêm tủy cắt ngang.
Viêm tủy cắt ngang cũng có
thể là triệu chứng đầu tiên của bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis), một
loại bệnh tự miễn với các tổn thương cơ bản ở bao myelin của các sợi trục thần
kinh. Trong trường hợp này, triệu chứng của bệnh thường chỉ ở một bên của cơ
thể.
Viêm tủy - thị thần kinh
(Neuromyelitis optica) cũng là một nguyên nhân trong đó có sự kết hợp thương
tổn giữa tủy sống và các dây thần kinh thị giác. Biểu hiện của bệnh, bên cạnh
triệu chứng của viêm tủy cắt ngang, có thêm giảm hoặc mất thị lực, liệt cơ vận
nhãn... tuy không phải trường hợp nào cũng có các triệu chứng này.
Viêm tủy cắt ngang cũng có
thể xuất hiện sau tiêm một số vắc-xin như sởi, quai bị, bạch hầu, viêm gan B,
uốn ván... Người ta cho rằng, các vắc-xin
này có thể đóng vai trò như là những chất kích hoạt (trigger) cho sự
khởi phát của bệnh.
Viêm tủy cắt ngang có liên
quan đến các bệnh ác tính (ung thư) ít gặp trên thực tế lâm sàng. Cho đến nay, chỉ
có một số trường hợp được báo cáo và người ta cho rằng khi bị ung thư, cơ thể
sinh kháng thể chống lại khối u và gây phản ứng chéo với cả các tế bào thần
kinh của tủy sống.
Một số các bệnh tự miễn khác
như lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng Sjogren (với các biểu hiện như khô mắt,
miệng, da, niêm mạc mũi, âm đạo...) cũng có kèm tổn thương điển hình của bệnh
viêm tủy cắt ngang và trong nhiều trường hợp có cả tổn thương thị giác kèm
theo.
Biểu hiện khi bị viêm tủy cắt
ngang
Tủy sống là nơi tập trung
những sợi thần kinh vận động đi xuống thân và các chi cũng như các sợi thần
kinh cảm giác đi theo chiều ngược lại nên khi tủy sống bị tổn thương, các tín
hiệu dẫn truyền thần kinh bị rối loạn và thậm chí bị cắt đứt dẫn đến các triệu
chứng như yếu cơ, liệt cơ, rối loạn cảm giác và khu vực bị ảnh hưởng ở thấp bên
dưới khoanh tủy có các sợi thần kinh chi phối. Các cơ bị liệt có thể là cơ hô
hấp (cơ liên sườn, cơ hoành, cơ ức đòn chũm, cơ thang) hay các cơ ở chi trên,
chi dưới. Các rối loạn cảm giác hay gặp là cảm giác tê bì, kiến bò, bỏng rát,
đau nhói, đau các cơ ở cổ, đau lưng, đau bụng. Rối loạn cơ tròn là một triệu
chứng thường có với biểu hiện bí tiểu, táo bón. Triệu chứng nặng hay nhẹ phụ
thuộc vào vị trí và tổn thương tủy sống nhiều hay ít. Bệnh nhân sẽ rất nặng nếu
có liệt cơ hô hấp dẫn đến khó thở và nhiều trường hợp phải thở máy.
Chẩn đoán xác định viêm tủy
cắt ngang dựa vào tình trạng bệnh nhân và các phương pháp cận lâm sàng như chọc
dịch não tủy, chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống có khuếch đại bằng gadolinium
sẽ thấy rõ mức độ và vị trí của tổn thương.
Giải pháp nào cho căn bệnh?
Điều trị viêm tủy cắt ngang
bao gồm hai liệu pháp chủ yếu: sử dụng steroid và thay huyết tương (plasma
exchange). Steroid được sử dụng sớm ngay trong giai đoạn cấp nhằm mục tiêu chống
viêm, ức chế miễn dịch làm giảm tổn thương. Hoạt chất được dùng là
methylprednisolon 1.000mg hoặc dexamethason 200mg tiêm tĩnh mạch trong 3 - 5
ngày. Quyết định dùng tiếp steroid hay không phụ thuộc tiến triển của triệu
chứng và kết quả chụp MRI sau 5 ngày điều trị. Bên cạnh steroid, cũng có thể sử
dụng các thuốc ức chế miễn dịch khác như cyclophosphamid. Thay huyết tương nhằm
mục tiêu loại bỏ phức hợp kháng nguyên kháng thể khỏi máu bệnh nhân và được chỉ
định cho những thể viêm tủy cắt ngang trung bình và nặng (có liệt cơ nhiều).
Liệu pháp này có thể dùng sau khi sử dụng steroid thất bại hoặc dùng ngay từ
đầu. Các biện pháp khác như cho thở máy nếu bệnh nhân có suy hô hấp do liệt cơ,
nuôi dưỡng, bù nước điện giải... cũng hết sức cần thiết.
TS. BS. Vũ Đức Định
Tần suất mắc bệnh viêm tủy
cắt ngang vào khoảng 1 - 8 trường hợp trên 1 triệu dân/năm với xấp xỉ 1.400 ca
mới mắc, xảy ra ở mọi lứa tuổi (từ 6 tuổi trở lên), tần suất hay gặp hơn ở nhóm
tuổi từ 10 - 19 và 30 - 39 tuổi. Viêm tủy cắt ngang cũng hay gặp ở trẻ em
(khoảng 25% số bệnh nhân) và không có tính chất gia đình cũng như khả năng tái
diễn mặc dù có một tỷ lệ nhỏ số bệnh nhân có thể bị mắc lại.
Phòng tránh rối loạn tiền đình
(SKDS) - Thời tiết giao mùa, sức đề kháng kém
cộng với những căn bệnh mạn tính thường gặp như: huyết áp, tim mạch...
khiến cho nhiều người thường xuyên bị chóng mặt, quay cuồng, hoa mắt, ù
tai, buồn nôn... Đó là những biểu hiện của chứng rối loạn tiền đình.
Bệnh tuy không trực tiếp gây nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân nhưng rất
hay tái phát, gây khó chịu, làm ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống.
Rối loạn tiền đình ngoại biên
Thường gặp các dạng dưới đây:
Chóng mặt: Đây là triệu chứng hay gặp nhất. Cơn chóng mặt thường ngắn, xảy ra khi thay đổi tư thế đầu, tư thế nằm, ngồi; thường mắc phải sau chấn thương đầu, viêm mê đạo (thuộc vùng ốc tai) do siêu vi, tắc mạch máu ở vùng sau cổ. Chóng mặt hay xảy ra ở những người làm việc văn phòng, ngồi nhiều trong phòng lạnh và tiếp xúc thường xuyên với máy tính. Vì ngồi nhiều trong phòng lạnh, vùng cột sống cổ dễ bị nhiễm lạnh, lâu ngày làm co thắt động mạch cột sống thân nền, dẫn đến rối loạn tiền đình ngoại biên.
Bệnh Menière: Biểu hiện chóng mặt nặng kèm theo nôn ói kéo dài, ù tai, nặng tai, giảm thính lực một hoặc cả hai bên tai (nếu bị tái phát nhiều lần).
Chóng mặt sau chấn thương sọ não, kèm nặng đầu, khó tập trung, choáng váng, hồi hộp, sợ ánh sáng...
Các dạng bệnh tiền đình ngoại biên khác như: viêm tai xương chũm mạn tính, xơ cứng tai, các loại thuốc gây tổn thương tiền đình - ốc tai như: một vài loại thuốc kháng sinh, thuốc lợi tiểu, thuốc chống ung thư, thuốc giảm đau, rượu, xạ trị...
Rối loạn tiền đình trung ương
Là do tổn thương trong não gây ra. Đây là bệnh lý thường gặp nhất với những biểu hiện của tình trạng thiểu năng tuần hoàn não. Khi mắc bệnh, người bệnh thường đi đứng khó khăn, khi thay đổi tư thế hay bị choáng váng, chóng mặt, đôi khi khó tập trung, mau quên, thỉnh thoảng kèm theo nôn ói. Rối loạn tiền đình trung ương là do có sự tổn thương nhân tiền đình, tổn thương đường liên hệ của các nhân dây tiền đình ở thân não, tiểu não.
Chủ động phòng bệnh bằng cách tập thường xuyên
Luyện tập động tác với đầu và cổ: Ngửa đầu ra sau, cúi đầu xuống, nghiêng đầu sang phải và sang trái hết cỡ. Quay đầu tròn chữ O bên phải rồi bên trái (khoảng 10-15 lần). Nằm ngửa trên giường, để một tay ở đỉnh đầu, một tay dưới cằm, thật mềm cổ, vặn cằm về bên trái, rồi về bên phải, có tiếng kêu răng rắc là tốt. Sau đó, lồng các ngón tay với nhau để vào sau gáy, kéo mạnh gập cằm về phía ngực (khoảng 10 lần).
Dùng tay xoa mặt, mắt, tai: Hai bàn tay miết mạnh vào nhau cho nóng, xoa đều vào mặt, hốc mắt và tai để tác động vào các nút thần kinh tai, mắt, mặt (khoảng 10 lần).
Tập thể dục như bình thường, vừa sức nhưng phải làm được 3 động tác cơ bản: Chạy đi chạy lại nhẹ nhàng 8-10 phút. Đứng hơi dạng hai chân, cúi người xuống, đầu ngón tay chạm vào ngón chân cái, vung hai tay và quay mặt về bên trái rồi về bên phải hết cỡ (nhớ là quay cả mặt). Làm 10 lần.
Bên cạnh việc tập thể dục đều đặn, người bệnh cần điều chỉnh các thói quen, lối sống: để đèn ngủ sáng; không ngồi liên tục quá lâu, nhất là ngồi máy tính; hạn chế uống rượu, cà phê, thuốc lá; tránh tiếp xúc với các chất liệu hoặc thực phẩm có mùi vị kích thích; tránh thay đổi tư thế đột ngột; không lái xe hoặc điều khiển máy móc có động cơ mạnh; giảm thiểu căng thẳng, lo âu, hoảng hốt; tránh leo trèo cao; không đọc sách báo khi ngồi trên ôtô; ngồi hoặc nằm ngay khi cảm thấy chóng mặt.
Tuy nhiên, nếu thấy một trong những triệu chứng: cơn nhức đầu bất thình lình; mờ mắt, nhìn sự vật không rõ; giảm thính giác; mất định hướng với không gian và thời gian; nói khó khăn; tay chân run rẩy, yếu; bất tỉnh nhân sự; cảm thấy lảo đảo muốn té ngã; thấy tê dại các đầu ngón chân tay; đau ngực hoặc nhịp tim nhanh chậm bất thường thì ngay lập tức cần đi khám để được bác sĩ tư vấn và điều trị vì các dấu hiệu đó có thể báo hiệu các bệnh nặng như tai biến động mạch não, u bướu não...
Tiền đình là vùng nằm ở phía sau ốc tai (hai bên), là một hệ thống
có vai trò quan trọng trong duy trì tư thế, dáng bộ, phối hợp cử động
mắt, đầu và thân mình.Có hai loại rối loạn tiền đình: rối loạn tiền đình
ngoại biên và rối loạn tiền đình trung ương.
|
Ảnh minh họa (nguồn Internet)
|
Chóng mặt: Đây là triệu chứng hay gặp nhất. Cơn chóng mặt thường ngắn, xảy ra khi thay đổi tư thế đầu, tư thế nằm, ngồi; thường mắc phải sau chấn thương đầu, viêm mê đạo (thuộc vùng ốc tai) do siêu vi, tắc mạch máu ở vùng sau cổ. Chóng mặt hay xảy ra ở những người làm việc văn phòng, ngồi nhiều trong phòng lạnh và tiếp xúc thường xuyên với máy tính. Vì ngồi nhiều trong phòng lạnh, vùng cột sống cổ dễ bị nhiễm lạnh, lâu ngày làm co thắt động mạch cột sống thân nền, dẫn đến rối loạn tiền đình ngoại biên.
Bệnh Menière: Biểu hiện chóng mặt nặng kèm theo nôn ói kéo dài, ù tai, nặng tai, giảm thính lực một hoặc cả hai bên tai (nếu bị tái phát nhiều lần).
Chóng mặt sau chấn thương sọ não, kèm nặng đầu, khó tập trung, choáng váng, hồi hộp, sợ ánh sáng...
Các dạng bệnh tiền đình ngoại biên khác như: viêm tai xương chũm mạn tính, xơ cứng tai, các loại thuốc gây tổn thương tiền đình - ốc tai như: một vài loại thuốc kháng sinh, thuốc lợi tiểu, thuốc chống ung thư, thuốc giảm đau, rượu, xạ trị...
Rối loạn tiền đình trung ương
Là do tổn thương trong não gây ra. Đây là bệnh lý thường gặp nhất với những biểu hiện của tình trạng thiểu năng tuần hoàn não. Khi mắc bệnh, người bệnh thường đi đứng khó khăn, khi thay đổi tư thế hay bị choáng váng, chóng mặt, đôi khi khó tập trung, mau quên, thỉnh thoảng kèm theo nôn ói. Rối loạn tiền đình trung ương là do có sự tổn thương nhân tiền đình, tổn thương đường liên hệ của các nhân dây tiền đình ở thân não, tiểu não.
Ở giai đoạn đầu, các triệu chứng của bệnh thường nhẹ như mất ngủ,
người mệt mỏi, vì thế ít bệnh nhân để ý điều trị bệnh. Thời gian sau,
những người bị rối loạn tiền đình sẽ thấy mọi vật xung quanh nhưng sẽ có
cảm giác không bình thường, trở mình thấy lao đao, ngồi dậy khó khăn,
nhất là vào buổi đêm về sáng. Nhiều người bị mất thăng bằng, dễ ngã,
thậm chí nếu cơn nặng, họ chỉ nằm được ở một tư thế, không ngồi dậy nổi,
buồn nôn và có thể nôn dữ dội gây mất nước, điện giải, mở mắt ra sẽ
thấy mọi vật quay cuồng, đảo lộn.
Bệnh nhân ở thể nhẹ thường tỉnh táo, đầu không đau nhức nhưng nặng
trĩu như bị nén, ép lại; sợ ánh sáng, tiếng động và sự thay đổi tư thế,
muốn tìm sự yên tĩnh; mạch thường nhanh, huyết áp hạ, người mệt lả. Hội
chứng rối loạn tiền đình nếu không điều trị tích cực sẽ kéo dài, tái
diễn liên tục, để lại những di chứng mất thăng bằng, lảo đảo, mắt mờ
nhòe, chân tay tê bì, run rẩy, suy yếu mệt mỏi một thời gian, ảnh hưởng
rất nhiều tới sức khỏe.
Tùy theo nguyên nhân gây rối loạn tiền đình, bác sĩ sẽ có hướng điều
trị thích hợp: Nếu bị viêm tai giữa thì tùy theo mức độ mà điều trị nội
khoa hoặc phẫu thuật, còn các cơn chóng mặt theo tư thế thì dùng thuốc
theo chỉ dẫn của bác sĩ, hoặc luyện tập tiền đình (do bác sĩ chuyên khoa
hướng dẫn) để cơ thể quen dần với các tư thế, tránh bị choáng váng,
chóng mặt.|
Vị trí xảy ra rối loạn tiền đình.
|
Luyện tập động tác với đầu và cổ: Ngửa đầu ra sau, cúi đầu xuống, nghiêng đầu sang phải và sang trái hết cỡ. Quay đầu tròn chữ O bên phải rồi bên trái (khoảng 10-15 lần). Nằm ngửa trên giường, để một tay ở đỉnh đầu, một tay dưới cằm, thật mềm cổ, vặn cằm về bên trái, rồi về bên phải, có tiếng kêu răng rắc là tốt. Sau đó, lồng các ngón tay với nhau để vào sau gáy, kéo mạnh gập cằm về phía ngực (khoảng 10 lần).
Dùng tay xoa mặt, mắt, tai: Hai bàn tay miết mạnh vào nhau cho nóng, xoa đều vào mặt, hốc mắt và tai để tác động vào các nút thần kinh tai, mắt, mặt (khoảng 10 lần).
Tập thể dục như bình thường, vừa sức nhưng phải làm được 3 động tác cơ bản: Chạy đi chạy lại nhẹ nhàng 8-10 phút. Đứng hơi dạng hai chân, cúi người xuống, đầu ngón tay chạm vào ngón chân cái, vung hai tay và quay mặt về bên trái rồi về bên phải hết cỡ (nhớ là quay cả mặt). Làm 10 lần.
Bên cạnh việc tập thể dục đều đặn, người bệnh cần điều chỉnh các thói quen, lối sống: để đèn ngủ sáng; không ngồi liên tục quá lâu, nhất là ngồi máy tính; hạn chế uống rượu, cà phê, thuốc lá; tránh tiếp xúc với các chất liệu hoặc thực phẩm có mùi vị kích thích; tránh thay đổi tư thế đột ngột; không lái xe hoặc điều khiển máy móc có động cơ mạnh; giảm thiểu căng thẳng, lo âu, hoảng hốt; tránh leo trèo cao; không đọc sách báo khi ngồi trên ôtô; ngồi hoặc nằm ngay khi cảm thấy chóng mặt.
Tuy nhiên, nếu thấy một trong những triệu chứng: cơn nhức đầu bất thình lình; mờ mắt, nhìn sự vật không rõ; giảm thính giác; mất định hướng với không gian và thời gian; nói khó khăn; tay chân run rẩy, yếu; bất tỉnh nhân sự; cảm thấy lảo đảo muốn té ngã; thấy tê dại các đầu ngón chân tay; đau ngực hoặc nhịp tim nhanh chậm bất thường thì ngay lập tức cần đi khám để được bác sĩ tư vấn và điều trị vì các dấu hiệu đó có thể báo hiệu các bệnh nặng như tai biến động mạch não, u bướu não...
BS.Nguyễn Anh Tuấn


Thứ Hai, tháng 6 30, 2014
sống khỏe