Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Kiểm soát xơ vữa động mạch Hạn chế tử vong và tàn phế

Vữa xơ động mạch (VXĐM) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế. Vai trò của vữa xơ động mạch đã được xác định trong các bệnh lý về tim mạch (thiếu máu cơ tim cục bộ, tăng huyết áp, phồng bóc tách quai động mạch chủ), bệnh đột quỵ não, nhồi máu phổi và bệnh động mạch ngoại vi... Vữa xơ động mạch có cơ chế bệnh sinh rất phức tạp, bệnh tiến triển liên tục và thầm lặng, chịu tác động của nhiều yếu tố nguy cơ, tuy nhiên những yếu tố này đa phần đều có thể thay đổi được. Việc điều chỉnh và chế áp các yếu tố nguy cơ góp phần làm giảm tiến trình VXĐM và phòng tránh được các biến chứng của nó gây ra.
Cho tới nay, người ta chưa xác định chính xác nguyên nhân gây VXĐM. Tuy nhiên có rất nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh được phát hiện như: tuổi, giới tính, chủng tộc, di truyền; tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, hút thuốc lá, thừa cân, giảm vận động thể lực... Trong những năm gần đây, khoa học đã phát hiện thêm yếu tố nguy cơ mới gây VXĐM, đó là tăng nồng độ homocystein máu, giảm nồng độ acid folic, tăng nồng độ yếu tố gây viêm CRP (C-Reactive Protein) và tăng fibrinogen máu.
Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được
Tăng huyết áp: Tăng huyết áp là một bệnh đang lưu hành rộng rãi trong cộng đồng (25 - 40%) và làm tăng nguyên cơ bị các biến chứng đột quỵ não và bệnh tim mạch lên 3 - 5 lần. Điều tra trong cộng đồng cho thấy tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp khoảng 20% ở tuổi 50; 30% tuổi 60; 40% tuổi 70; 55% tuổi 80 và 60% ở độ tuổi 90. Khoảng 50 triệu người Mỹ có tăng huyết áp. Hiệu quả của điều trị chống tăng huyết áp đã được nhiều thử nghiệm lâm sàng công bố là rất tốt. Tổng hợp 17 thử nghiệm điều trị tăng huyết áp khắp thế giới với 50.000 bệnh nhân tham gia, kết quả cho thấy giảm được 38% tất cả các thể đột quỵ và giảm 40% tử vong do đột quỵ. Trong điều trị tăng HA, nếu HA tâm thu giảm 10mmHg sẽ giảm 35 - 40% đột quỵ não.
Bệnh đái tháo đường: Bệnh gây rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và vữa xơ các động mạch lớn và nhỏ, gây nhiều biến chứng về tim mạch và đột quỵ não.
Rối loạn lipid máu: Nồng độ cao trong huyết thanh của lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-cholesterol), nồng độ thấp của hoạt động lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-cholesterol). Khi tăng nồng độ cholesterol >6,2mmol/l làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và đột quỵ lên 1,8 - 2,6 lần.
Hút thuốc lá: Có mối liên quan trực tiếp giữa số lượng thuốc lá, hút thường xuyên quá nhiều với nguy cơ bệnh tim mạch, thể hiện qua sự giảm HDL-cholesterol, tăng nồng độ LDL-cholesterol và co mạch. Tỷ lệ người hút thuốc lá chiếm 25% và làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch gấp 1,5 lần.
C-reactive protein (CRP): Nồng độ CRP tăng cao trong máu là nguy cơ cho bệnh VXĐM và nhồi máu cơ tim. Tăng nồng độ CRP là dấu hiệu viêm trong cơ thể. Tổn thương nội mạc động mạch dường như kích hoạt và làm phát triển mảng bám (plaque).
Thiếu vitamin B6, B12 và acid folic: Khi thiếu các chất này gây tăng homocystein máu, từ đó làm tăng tổn thương nội mạc động mạch, phát động tiến trình VXĐM. Các nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ tăng homocystein máu trên 15µmol/l gặp 20 - 40% và làm tăng nguy cơ tai biến tim mạch và não gấp 3 - 5 lần.
Các yếu tố nguy cơ ít hoặc không chắc chắn
Đây là các yếu tố có tầm quan trọng thấp hơn, không chắc chắn: Béo phì: béo phì trung tâm đặc biệt, còn được gọi là béo bụng. Theo nghiên cứu của Griffith RW, tỷ lệ béo phì là 18% và làm tăng nguy cơ bị đột quỵ não lên 1,8 - 2,4 lần; tăng đông máu; thiếu estrogen sau mãn kinh; lượng carbohydrate cao; nồng độ cao triglycerides; nồng độ cao của acid uric; nồng độ fibrinogen trong huyết thanh cao; cường giáp tuyến; nồng độ insulin huyết thanh. Ngoài ra, chứng ngừng thở khi ngủ có thể làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, đái tháo đường, thậm chí nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ; nhiễm khuẩn Chlamydia pneumoniae; ô nhiễm không khí, hạt mịn, có liên quan đến sự dày lên của động mạch cảnh.
Các yếu tố nguy cơ không thay đổi được
Tuổi: VXĐM phát triển theo tuổi, chủ yếu trên 40 tuổi. Với nam giới thì nguy cơ VXĐM gia tăng sau 45 tuổi, còn với phụ nữ nguy cơ VXĐM gia tăng sau 55 tuổi.
Giới: Nam có khuynh hướng mắc bệnh nhiều hơn nữ. Sau thời kỳ mãn kinh, nữ có tỷ lệ mắc bệnh tương tự nam.
Tiền sử gia đình: Xơ vữa mạch thường gặp ở những thành viên cùng gia đình, tuy nhiên sự liên quan này chưa được biết rõ. Nguy cơ VXĐM tăng nếu bố hoặc anh trai bị bệnh tim trước 55 tuổi, hoặc nếu mẹ hoặc chị gái bị bệnh tim trước 65 tuổi.
Dự phòng để tránh biến chứng tim mạch, đột quỵ não
Các biện pháp không dùng thuốc có vai trò rất quan trọng, đó là một chế độ ăn uống và sinh hoạt khoa học: cần ăn nhạt, ăn giảm mỡ động vật, tăng dầu thực vật, nhiều rau xanh; tăng hoạt động thể lực, tránh thừa cân và béo phì; ngủ nghỉ hợp lý, nếp sống khoa học, tránh stress; không uống nhiều rượu bia, không hút thuốc lá.
Bổ sung các vitamin và dưỡng chất cần thiết: các vitamin A, E, C, caroten, coemzym Q10 có tác dụng chống ôxy hóa và giảm gốc tự do rất tốt. Các vitamin B6, B12 và acid folic giúp chống tổn thương nội mạc mạch máu do làm giảm homocystein máu.
Kiểm soát các bệnh mạn tính: tăng huyết áp, đưa mức huyết áp dưới 140/90mmHg; kiểm soát đái tháo đường (glucose máu<7,2mmol/l, HbA1c<7,0%); kiểm soát rối loạn mỡ máu (cholesterol<5,2mmol/l, HDL-cholesrerol>0,9mmol/l, LDL-cholesterol<3,9mmol/l và triglicerid <2,3mmol/l).
Dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu: Nhóm thuốc này có tác dụng chống kết tập tiểu cầu ở nơi có tổn thương nội mạc động mạch, do đó ngăn không cho hình thành cục máu đông (huyết khối). Thường áp dụng cho những người có bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, xác định có mảng VXĐM bằng hình ảnh.
BSCKI. Nguyễn Văn Tuấn (Khoa Đột quỵ não - Bệnh viện 103)

Nắng nóng, dự phòng bệnh dại

Hiện nay đang vào mùa nắng nóng, đã xảy ra bệnh dại ở người do chó dại cắn ở một số địa phương và đã có trường hợp bị tử vong do việc xử trí không phù hợp, kịp thời. Vì vậy, cộng đồng người dân và cả cơ sở y tế không nên chủ quan, cần biết nguyên tắc điều trị dự phòng cần thiết.
Nắng nóng, dự phòng bệnh dại
Lời khuyên của thầy thuốc
Cần lưu ý rằng, các vết thương do những động vật hoang dại cắn cũng phải xử trí điều trị dự phòng như đối với trường hợp bị chó cào cắn. Khi bị các động vật hoang dại cắn, cần bắt ngay con vật để làm xét nghiệm; khi có kết quả âm tính đối với bệnh dại thì có thể dừng việc điều trị dự phòng. Nếu vết thương do các loại động vật gặm nhấm, gia súc khác cắn thì cơ sở y tế có thể xem xét chỉ định việc tiêm vắc-xin phòng dại mà không cần tiêm huyết thanh kháng dại.
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế trong điều trị dự phòng bệnh dại, việc chỉ định dùng vắc-xin phòng dại và huyết thanh kháng dại phải căn cứ theo tình trạng của con chó, hoàn cảnh bị chó cào cắn hoặc tiếp xúc với nguồn bệnh, vị trí, số lượng, mức độ vết cào cắn và tình hình bệnh dại xảy ra tại địa phương. Đối với những người chưa được tiêm vắc-xin, việc chỉ định điều trị dự phòng bệnh dại cần phải dựa vào phân loại vết thương do chó cào cắn một cách cụ thể để có xử trí phù hợp. Tình trạng tiếp xúc với chó hoặc do bị chó cào cắn được phân chia làm 3 mức độ, từ bình thường đến nặng.
Mức độ 1
Đây là mức độ khi cơ thể không bị tổn thương, người chỉ tiếp xúc với chó bằng động tác sờ mó, vuốt ve; cho chó ăn, để chó liếm trên phần da lành không bị vết xước, vết cào thì không cần xử trí điều trị dự phòng.
Mức độ 2
Được phát hiện khi bị chó cào cấu gây thương tổn với vết xước, vết cào; để chó liếm trên phần da và niêm mạc bị tổn thương. Nếu tại thời điểm bị cào cấu, chó ở trong tình trạng bình thường kể cả chó đã được tiêm phòng dại thì phải điều trị dự phòng bằng cách tiêm ngay vắc-xin phòng dại và trong vòng 10 ngày, sau đó tình trạng chó vẫn ở tình trạng bình thường thì dừng tiêm vắc-xin sau ngày thứ 10. Nếu tại thời điểm bị chó cào cấu phát hiện có vết xước, vết cào và chó ở trong tình trạng bình thường kể cả chó đã được tiêm phòng dại nhưng trong vòng 10 ngày sau đó con chó bị ốm, có xuất hiện triệu chứng dại hoặc bỏ chạy mất tích không theo dõi được thì ngay từ đầu phải điều trị dự phòng bằng cách tiêm ngay vắc-xin dại và tiêm đủ liều. Khi tại thời điểm bị chó cào cấu có vết xước, vết cào; chó đã có triệu chứng dại hoặc bỏ chạy mất tích không theo dõi được tình trạng thì ngay từ đầu phải điều trị dự phòng bằng cách tiêm ngay vắc-xin phòng dại và tiêm đủ liều.
Nắng nóng, dự phòng bệnh dại
Mức độ 3
Đây là mức độ nặng xảy ra khi nạn nhân có những tổn thương do vết cắn, vết cào nguy hiểm.
Nếu vết thương do chó cắn hay cào gây chảy máu ở vùng xa thần kinh trung ương nhưng tại thời điểm bị cắn hay cào; con chó ở tình trạng bình thường thì phải điều trị dự phòng bằng cách tiêm ngay vắc-xin phòng dại và theo dõi 10 ngày sau đó chó vẫn ở tình trạng bình thường thì có thể dừng tiêm vắc-xin sau ngày thứ 10. Nếu tại thời điểm bị chó cắn hay cào, con chó ở tình trạng bình thường nhưng trong vòng 10 ngày sau đó chó bị ốm, có xuất hiện triệu chứng dại hoặc bỏ chạy mất tích không theo dõi được thì ngay từ đầu phải điều trị dự phòng bằng cách phải tiêm ngay vắc-xin phòng dại và tiêm đủ liều. Khi tại thời điểm bị chó cắn hay cào, con chó có triệu chứng dại hoặc bỏ chạy mất tích không theo dõi được tình trạng thì phải điều trị dự phòng ngay từ đầu bằng cách tiêm ngay huyết thanh kháng dại và vắc-xin phòng dại.
Nếu vết thương do chó cắn hay cào gây tổn thương sâu, có nhiều vết thương; vết cắn, vết cào gần thần kinh trung ương như đầu, mặt, cổ hay ở vùng có nhiều dây thần kinh như các đầu chi, bộ phận sinh dục nhưng ở thời điểm bị cắn hay cào chó ở trong tình trạng bình thường, có triệu chứng dại hoặc bỏ chạy mất tích không theo dõi được thì phải điều trị dự phòng ngay từ đầu bằng cách tiêm ngay huyết thanh kháng dại và vắc-xin phòng dại.

TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH

Nguy cơ đột quỵ do nắng nóng

Theo ThS.BS Phạm Phú Vinh, mùa hè với những đợt nắng nóng đổ lửa khiến cơ thể của chúng ta khó thích nghi với môi trường. Bệnh đột quỵ do nắng nóng là bệnh có thể xảy ra với nhiều người và cũng rất nguy hiểm nếu không biết cách xử trí kịp thời. Để phòng tránh bệnh đột quỵ, chúng ta cần làm theo một vài lưu ý sau đây.
Đột quỵ do nắng nóng
Nhờ khả năng điều hòa nhiệt độ nên thân nhiệt của chúng ta luôn ổn định ở 37oC, dù nhiệt độ ngoài môi trường có giảm xuống hay tăng lên. Trong những ngày nắng nóng, cơ thể phải thải nhiệt bằng cách ra mồ hôi, thở nhanh, đi tiểu, giãn mạch ngoài da, tăng hoạt động của tim để đẩy máu ra bề mặt cơ thể nhằm thoát nhiệt... Nếu cơ thể không tự làm mát được thì nhiệt độ cơ thể tăng cao và sẽ dẫn đến đột quỵ.
Những ngày nắng nóng có thể gây đột qụy bằng cơ chế phối hợp bởi 3 yếu tố: một là nắng nóng, cơ thể phải đổ nhiều mồ hôi, gây mất nước, dẫn tới giảm khối lượng máu, làm thiếu hụt lượng máu nuôi não, dẫn đến đột quỵ não. Hai là, nắng nóng làm tăng thân nhiệt, gây rối loạn chức năng điều phối hoạt động sống của hệ thần kinh trung ương, làm rối loạn hô hấp và tuần hoàn, hậu quả cũng suy giảm lượng máu nuôi não dẫn đến đột quỵ. Ba là, nắng nóng gây rối loạn hoạt động của hệ tim mạch, làm tim hoạt động kém, suy giảm hiệu suất tống máu, kèm theo sự giãn mạch, làm cho thiếu máu nuôi não và nhiều cơ quan khác cũng dẫn đến đột quỵ.
Trời càng nắng nóng, càng dễ gây ra đột quỵ, nhiệt độ càng cao thì mức độ đột quỵ càng nặng. Nếu nhiệt độ ngoài trời từ 35 - 36oC ít khi gây ra đột quỵ mà chỉ gây ra say nắng và say nóng. Nhưng khi nhiệt độ ngoài trời từ 39 - 40oC trở lên thì rất dễ gây đột quỵ não ở người cao tuổi. Vì vậy, chúng ta phải coi những ngày nắng 39 - 40oC là ngưỡng nhiệt độ nguy hiểm để có biện pháp bảo vệ cha mẹ già, phòng tránh đột quỵ.
Cách phát hiện người bị đột quỵ do nắng nóng
Người đi lại hay hoạt động ngoài trời nắng, nếu bị đột quỵ sẽ có những biểu hiện như sau: người bệnh đột ngột mất ý thức, ngất; da nóng ran, cặp nhiệt độ cơ thể có thể lên tới 40 - 41oC hoặc cao hơn. Bệnh nhân đổ nhiều mồ hôi, da ẩm ướt, bại yếu nửa người, không cử động được, không đi lại được, không nói được hoặc khó nói, nói ngọng, không xác định được không gian và thời gian.
Nguy cơ đột quỵ do nắng nóng
Đưa bệnh nhân bị đột quỵ vào bóng mát để cấp cứu.
Một trường hợp đột quỵ kiểu khác là bệnh tiến triển từ nhẹ đến nặng như sau: bệnh nhân có các triệu chứng kiệt sức do nắng nóng như ra mồ hôi quá nhiều, đau đầu, khó chịu, mặt đỏ, đỏ da toàn thân, cảm giác nghẹt thở, thở nhanh, nông, có khi đau bụng, buồn nôn và nôn mửa, đau đầu, choáng váng hoặc ngất, mệt mỏi, bị chuột rút. Thân nhiệt tăng và kèm các triệu chứng: lú lẫn, mất thăng bằng, thở dốc, hơi thở yếu, choáng, ngất, chóng mặt, hoa mắt, mặt tái nhợt, mạch nhanh, chuột rút (vọp bể), đái ít, sốt cao có khi tới 44oC, trụy mạch. Bệnh nhân sẽ có biểu hiện tổn thương thần kinh như: li bì, giãy giụa, mê sảng, hôn mê và có thể tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.
Cấp cứu bệnh nhân đột quỵ do nắng nóng
Bệnh nhân đột quỵ do nắng nóng cần cấp cứu khẩn cấp, vì nếu không được điều trị kịp thời, người bệnh nhanh chóng bị hôn mê chỉ trong vòng vài phút, thậm chí tử vong do thân nhiệt quá cao có thể dẫn tới suy tim, suy thận và tổn thương não.
Biện pháp cấp cứu: cần nhanh chóng đưa bệnh nhân vào nơi thoáng mát, cởi bỏ bớt hoặc nới rộng quần áo, lau mát và quạt thông hơi. Do bệnh nhân bị ngất hoặc hôn mê nên người cấp cứu không nên cố gắng cho bệnh nhân uống nước vì sẽ bị sặc nước vào phổi càng nguy hiểm. Dùng mọi phương tiện sẵn có để nhanh chóng đưa bệnh nhân đến bệnh viện điều trị.
Trường hợp bệnh nhân bị ngừng tim (bắt mạch hoặc sờ không thấy tim đập) phải làm hô hấp nhân tạo hà hơi thổi ngạt và ép tim ngoài lồng ngực.
Cách hà hơi thổi ngạt: khai thông đường hô hấp bằng cách đặt nạn nhân nằm ưỡn cổ nghiêng sang một bên, dùng gạc hay khăn vải móc sạch đờm dãi; đặt một khăn mùi soa hay miếng gạc qua miệng nạn nhân, dùng hai ngón tay cái và trỏ bịt mũi nạn nhân rồi thổi hơi trực tiếp vào miệng nạn nhân. Cách ép tim ngoài lồng ngực: dùng 2 tay chồng lên nhau ép lên lồng ngực ngoài tim, tần số ép khoảng 100 lần/1 phút. Nếu một người cấp cứu thì thổi ngạt 2 - 3 hơi lại ép tim ngoài lồng ngực 10 - 15 nhịp. Nếu có hai người cấp cứu thì một người thổi ngạt, một người ép tim ngoài lồng ngực, làm kiên trì cho đến khi tim đập lại và thở trở lại. Chuyển bệnh nhân đến bệnh viện.
Lời khuyên của bác sĩ
Mùa nắng nóng bạn cần theo dõi dự báo thời tiết để chủ động phòng tránh đột quỵ cho ông bà, cha mẹ đã cao niên. Mọi người nói chung và người cao tuổi không nên đi lại hay làm việc vào những ngày nắng nóng và những giờ cao điểm nắng nóng từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Cần đội nón mũ rộng vành khi đi ngoài nắng. Nếu gia đình bạn có điều kiện dùng máy điều hòa nhiệt độ thì nên để nhiệt độ ở khoảng 26 - 28oC. Các gia đình không dùng máy điều hòa nhiệt độ thì làm mát nhà ở bằng cách che nắng, mở cửa cho thông thoáng với bên ngoài, bật quạt mát. Bạn cần uống nước thường xuyên để tránh mất nước. Các loại nước uống tốt vừa giải nhiệt vừa bù muối là nước trái cây, nước canh, nước rau, dung dịch oresol. Những người cao tuổi, sức yếu, có bệnh tim mạch, đã từng bị đột qụy thì không ra ngoài nắng sau 10 giờ sáng, không làm việc hoặc hoạt động gắng sức khi cơ thể mệt mỏi, đói và khát ở ngoài trời nắng. 

ThS. Phạm Phú Vinh

Ðừng để sán làm ổ trong não

Vừa qua, Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận một bệnh nhân nam ở Lạng Sơn bị sán não với khoảng 50 ổ sán trong não. Đây là ca bệnh được nhiều người quan tâm. Đáp ứng nhu cầu muốn tìm hiểu về bệnhsán não của đông đảo bạn đọc, báo Sức khỏe&Đời sống xin giới thiệu bài viết sau đây.
Thủ phạm gây bệnh sán não
Ấu trùng sán lợn gây bệnh mạn tính cho người với các tổn thương ở da, cơ, não... Bệnh ở da và cơ gọi là bệnh “người gạo”, ảnh hưởng tới thẩm mỹ là chính. Bệnh ở não gọi là sán não, có thể gây động kinh, co giật, rối loạn tâm thần, đột tử...
Một con sán dây lợn trưởng thành dài từ 2-3m, đường kính khoảng 1mm, có nhiều đốt. Một đốt sán già có thể chứa tới 55 nghìn trứng, những đốt già ở cuối thường rụng thành từng đoạn 5, 6 đốt liền nhau theo phân ra ngoài. Người là vật chủ chính của sán, còn lợn và các con vật nuôi khác như chó mèo là vật chủ phụ. Khi lợn ăn phải đốt sán hoặc trứng sán, trứng sán qua dạ dày đến ruột, ấu trùng chui qua thành ruột vào hệ tuần hoàn và đi khắp cơ thể lợn. Sau 2 tháng, ấu trùng tạo thành một nang có vỏ bọc ngoài, kích thước 17-20 x 7-10mm, lúc này con lợn bệnh được gọi là lợn gạo (cysticereus cellulosae). Trong các nang này có dịch màu trắng, có mẩu đầu sán với 4 giác và 2 vòng móc.
Hình ảnh ổ sán trong não trên phim chụp cắt lớp.     Các ổ sán trong não người bệnh.
Hình ảnh ổ sán trong não trên phim chụp cắt lớp. Các ổ sán trong não người bệnh.
Nếu người ăn phải trứng sán dây lợn theo thức ăn vào cơ thể, dưới tác dụng của dịch tiêu hoá, trứng từ các đốt sán già được giải phóng, hàng nghìn ấu trùng thoát ra khỏi trứng và chui qua thành ruột vào hệ tuần hoàn đi khắp cơ thể, vào các cơ, các mô, phát triển thành nang ấu trùng sán. Người có nang ấu trùng sán còn gọi là bệnh “người gạo”. Ấu trùng lên não làm ổ trong não gọi là bệnh sán não.
Biểu hiện của sán não và bệnh “người gạo”
Bệnh sán não xảy ra khi kén sán có ở não từ một đến nhiều ổ. Mức độ tổn thương nặng hay nhẹ phụ thuộc vào số lượng kén sán có trong não. Biểu hiện thường gặp là: bệnh nhân bị nhức đầu, buồn nôn hoặc nôn, cơn co giật (động kinh), liệt nửa người hoặc tê bì rối loạn cảm giác, khó ngủ hoặc mất ngủ, mờ mắt, tăng áp lực sọ não, suy nhược thần kinh, rối loạn tâm thần, bệnh nhân có thể bị đột tử.
Hầu hết bệnh nhân nhiễm sán não đến bệnh viện khám với biểu hiện đau đầu kéo dài hoặc bị co giật, điều trị tại tuyến cơ sở nhiều tháng, thậm chí nhiều năm không đỡ với chẩn đoán đau đầu, động kinh. Nhưng khi đi chụp cắt lớp, hình ảnh nang sán não dễ dàng được phát hiện, có những nang lớn từ 0,5-1cm. Nếu bị nang sán quá lâu, có thể để lại các nốt vôi hóa trong não.
Bệnh người gạo gồm các triệu chứng: ở da có các nang nhỏ, bằng hạt đỗ hoặc hạt dẻ, tròn, chắc, không đau, di động trên nền sâu và lăn dưới da, màu da ở trên nang vẫn bình thường. Các nang sán hay nổi ở mặt trong cánh tay nhưng có thể nổi ở bất kỳ vị trí nào và có tính chất đối xứng. Ở người bị bệnh lâu năm, các u nang sán sau nhiều năm sẽ bị vôi hoá, lúc này chụp phim Xquang có thể phát hiện được.
Ngoài ra, ấu trùng sán còn gây bệnh ở nhiều cơ quan khác. Ở mắt: nang ấu trùng có thể nằm trong hốc mắt, mi mắt, trong kết mạc, thuỷ tinh thể, tiền phòng, làm giảm thị lực hoặc bị mù tuỳ theo vị trí của ấu trùng trong mắt. Ở tim: nang ấu trùng ở cơ tim làm cho tim đập nhanh, tiếng tim bị biến đổi, bệnh nhân dễ bị ngất...
Xét nghiệm phân tìm thấy đốt sán và trứng sán; sinh thiết u nang ở da tìm thấy ấu trùng sán lợn. Chụp phim Xquang, chụp não thất hoặc soi đáy mắt phát hiện thấy u nang sán hoặc ấu trùng sán.
Điều trị không đơn giản
Bệnh nhân sán não cần được nhập viện điều trị để theo dõi chặt chẽ tiến triển của bệnh. Có thể dùng một trong hai loại thuốc diệt ấu trùng sán lợn ở não là: prazyquantel, albendazole; thuốc chống viêm corticoid nhằm mục đích làm giảm phản ứng viêm và quá mẫn do dùng thuốc diệt kén sán. Do tác dụng diệt ấu trùng sán của thuốc sẽ xuất hiện một số thay đổi về cấu trúc của kén sán và tổ chức nhu mô não. Khi thuốc ngấm vào kén sán sẽ làm kén sán trương lên, kích thước có thể gấp 3 lần ban đầu. Cấu trúc màng của kén sán cũng thay đổi, dịch nội kén sán thoát dần ra ngoài kéo theo protein ra nhu mô não, kén sán xẹp nhỏ dần. Khi các protein này gây phản ứng với não và phản ứng viêm dữ dội dẫn đến phù não và các phản ứng khác của cơ thể, có thể dẫn đến tử vong. Corticoid được sử dụng trước khi uống thuốc diệt ấu trùng sán não 5 ngày và duy trì trong suốt các đợt điều trị.
Phẫu thuật: đặt dẫn lưu não thất trong trường hợp kén sán làm tắc nghẽn lưu thông dịch não tủy, gây não úng thủy; phẫu thuật lấy kén sán nếu kén sán trong nội nhãn cầu. Sau phẫu thuật phải tiếp tục điều trị nội khoa.
Phẫu thuật u nang ở da để giải quyết yếu tố thẩm mỹ hoặc u nang chèn ép các dây thần kinh.
Lời khuyên của bác sĩ
Sán não là bệnh rất nguy hiểm, nhưng phòng tránh được khi bạn có hiểu biết về bệnh này. Bạn đừng để sán làm ổ trong não với các biện pháp phòng tránh sau đây: thực hiện ăn chín uống sôi, không ăn tiết canh lợn, lòng lợn, gỏi, thịt lợn tái... không ăn thịt lợn gạo, không ăn sống hoặc tái các loại rau trồng dưới nước như rau ngổ, rau muống, rau cần... mà phải nấu chín kỹ mới ăn; rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh; vệ sinh môi trường sạch sẽ; xây hố xí hợp vệ sinh; không đại tiện bừa bãi; không nuôi lợn thả rông...; dùng thuốc tẩy sán dây lợn khi đã bị nhiễm sán.

ThS. Bùi Quỳnh Nga

Cách chăm sóc người sa sút trí tuệ tại nhà

Bệnh nhân sa sút trí tuệ (SSTT) có biểu hiện suy giảm các mặt hoạt động tâm thần, nhất là các hoạt động chăm sóc cá nhân, các hoạt động quan hệ xã hội... Vậy những người mắc chứng SSTT cần được chăm sóc tại gia đình như thế nào?
Ăn uống giúp phòng ngừa SSTT
Chế độ ăn có vai trò rất quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh SSTT. Cụ thể là: tăng lượng rau và hoa quả, ăn nhiều cá có chứa dầu omega-3; giảm mỡ và chất béo; ăn nhiều thức ăn có chứa chất chống ôxy hóa như vitamin E, vitamin C có tác dụng loại bỏ các gốc tự do khỏi cơ thể; chế độ ăn hạn chế muối sẽ làm giảm đáng kể huyết áp; bổ sung đầy đủ các vitamin B12, B6, folat trong khẩu phần ăn sẽ làm giảm nồng độ homocystein (một acid amin độc với tế bào thần kinh, làm tăng nguy cơ Alzheimer và bệnh tim mạch). Các vitamin này cũng tham gia vào quá trình tạo hồng cầu, cung cấp ôxy (có trong rau chân vịt và một số loại rau sẫm màu khác, dâu tây, chanh, đậu đen, cam, đậu tương); hạn chế uống rượu: uống rượu quá mức có thể gây SSTT do rượu và có thể làm tăng nguy cơ SSTT do mạch máu. Nghiện rượu nặng ở tuổi trung niên phối hợp với tăng nguy cơ SSTT khi về già.
Người cao tuổi nên chơi các trò chơi trí tuệ như chơi cờ.
Người cao tuổi nên chơi các trò chơi trí tuệ như chơi cờ.
Đảm bảo chế độ ăn điều độ, hợp lý sẽ làm giảm nguy cơ các bệnh mạch máu não, bệnh tim mạch, bệnh chuyển hóa... từ đó giảm các nguy cơ bị SSTT.
Tập thể dục
Tập thể dục đều đặn, thường xuyên giúp cải thiện trí nhớ và làm chậm quá trình lão hóa cũng như sa sút trí tuệ. Tăng cường hoạt động thể lực: thường xuyên tập dưỡng sinh, đi bộ, chơi các môn thể thao phù hợp lứa tuổi. Tăng cường hoạt động trí óc: đánh cờ, làm thơ, viết văn, tham gia nghiên cứu khoa học... Tham gia các hoạt động tập thể và các hoạt động xã hội: dưỡng sinh, âm nhạc, hội họa, khiêu vũ, thơ, nuôi động vật cảnh... Tăng cường rèn luyện trí nhớ, khả năng tư duy và các chức năng nhận thức khác bằng cách duy trì đọc sách báo, tập nhớ lại những thông tin, các sự kiện trước đây, lập kế hoạch, thực hiện công việc, cố gắng làm theo thời gian biểu đã lập hàng ngày hoặc hàng tuần và để ra những phần việc quan trọng cần chú ý để thực hiện.
Sinh hoạt hàng ngày và vệ sinh cá nhân
Bệnh nhân SSTT thường có biểu hiện giảm khả năng thực hiện các công việc thường ngày như ăn mặc, giặt giũ, nấu ăn, không nhớ được công dụng và giảm khả năng sử dụng các đồ dùng trong nhà, không tự tắm giặt, vệ sinh cá nhân (đánh răng, rửa mặt, cạo râu, đại tiểu tiện). Do vậy, cần giúp đỡ bệnh nhân mặc quần áo, đánh răng, giúp bệnh nhân sử dụng các đồ dùng hàng ngày, nhắc và trợ giúp họ đi vệ sinh... Nên để bệnh nhân ở những nơi quen thuộc và an toàn: bệnh nhân SSTT thường mất định hướng không gian (không biết mình đang ở đâu), thời gian, do vậy rất dễ bị lạc khỏi nhà, khi xa nhà bệnh nhân không tìm được đường về. Bệnh nhân thường dễ bị các tai nạn trong sinh hoạt do khả năng sử dụng đồ đạc kém, cần để các vật dụng vừa thuận tiện vừa tránh được các nguy cơ gây tổn thương cho bệnh nhân. Sửa đổi cấu trúc của ngôi nhà cho bệnh nhân tiện sinh hoạt, đặt chuông báo động (nếu bệnh nhân đi lại nhiều trong nhà), lắp đặt đủ ánh sáng, đặt các biển báo hiệu trong nhà để giúp bệnh nhân định hướng. Nên cất bỏ các vật dụng nguy hiểm trong nhà như dao và các vật sắc nhọn. Phải theo dõi việc sử dụng các dụng cụ trong nhà, đảm bảo tắt dụng cụ sau khi sử dụng vì bệnh nhân thường hay quên. Khi có sự thay đổi về môi trường xung quanh, về thời gian biểu hoặc người chăm sóc phải giải thích cặn kẽ và đơn giản với bệnh nhân. Lịch, đồng hồ và thời gian biểu hoạt động hàng ngày giúp tăng cường sự định hướng. Cho bệnh nhân có thời gian để thích nghi và làm quen với sự thay đổi này, cố gắng loại bỏ những việc không cần thiết. Dùng thẻ thông tin cá nhân: cho bệnh nhân đeo thẻ thông tin cá nhân đề phòng bệnh nhân đi lạc đường hoặc bị tai nạn. Giảm stress cho bệnh nhân: tránh những tác động tâm lý không tốt với bệnh nhân như cách ly, coi thường, không quan tâm đến những đề xuất, những nhu cầu tình cảm của họ. Nên thăm hỏi thường xuyên, khuyến khích họ duy trì các hoạt động xã hội. Nên đưa bệnh nhân vào các chương trình hoạt động tại cộng đồng như các câu lạc bộ sức khỏe tại địa phương. Theo dõi những biểu hiện bất thường về tâm thần như kích động, những phản ứng quá mức về cảm xúc, hoang tưởng bị hại, ảo giác... để đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế hoặc điều dưỡng gần nhất. Kịp thời phát hiện các dấu hiệu của bệnh bằng việc đưa bệnh nhân đến khám sức khỏe định kỳ tại các cơ sở y tế... Tuân thủ chế độ điều trị của bác sĩ. Theo dõi quá trình bệnh và thuốc điều trị: lập sổ theo dõi quá trình mắc bệnh, tiến triển của bệnh, các thuốc đang dùng, ghi rõ loại thuốc, ngày giờ cần uống thuốc để tiện cho bệnh nhân nhớ giờ uống thuốc và thuận lợi cho những người chăm sóc khác trong gia đình.
Khi SSTT tiến triển nặng, những can thiệp mạnh hơn và chăm sóc trong bệnh viện cũng mang lại ít kết quả, không xứng với chi phí, gây những khó chịu và nhiều nguy cơ. Vì vậy, với SSTT nặng, nên tập trung vào tạo sự dễ chịu của bệnh nhân hơn là cố gắng kéo dài cuộc sống của họ.

ThS.BS. Nguyễn Hải Yến

Phòng bệnh viêm não do virut

Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế cảnh báo: Dịch viêm não virut đang gia tăng, 4 tháng đầu năm có 191 bệnh nhân, trong đó có 3 ca tử vong. Bệnh viêm não do nhiều loại virut gây ra như Arbovirus, các virut đường ruột, virut thủy đậu, quai bị... Nhưng trong mùa hè chủ yếu là Arbovirus gây viêm não. Vấn đề đặt ra là: các bậc cha mẹ cần làm gì để phòng bệnh viêm não cho con em mình?
Nguy cơ viêm não do muỗi đốt
Viêm não do Arbovirus gia tăng trong mùa nắng nóng. Nguồn lây bệnh là những động vật có vú nhỏ và một số loại chim, ngựa... Muỗi đốt động vật chứa mầm bệnh rồi đốt người truyền bệnh cho người. Bệnh gây viêm màng não, viêm não để lại di chứng, hôn mê, thiểu năng trí tuệ, liệt thần kinh sọ não... tỷ lệ tử vong khá cao. Arbovirus gây ra các bệnh viêm não St. Louis, viêm não Nhật Bản B và các bệnh: sốt Dengue, sốt vàng, sốt xuất huyết. Mùa hè nóng ẩm, muỗi phát triển nhiều, trong khi nhiều người ngại mắc màn khi ngủ đã tạo điều kiện cho muỗi đốt nên nguy cơ viêm não càng cao. Mặt khác cũng do nóng bức, trẻ em thường chỉ mặc quần đùi, áo cộc tay hoặc cởi trần nên càng dễ bị muỗi đốt, làm tăng tỷ lệ trẻ mắc bệnh viêm não.
Chẩn đoán hình ảnh tổn thương não trong bệnh viêm não do Arbovirus.
Chẩn đoán hình ảnh tổn thương não trong bệnh viêm não do Arbovirus.
Viêm não xuất hiện thế nào?
Một trường hợp viêm não điển hình, bệnh nhi thường có các triệu chứng như sau: sốt cao kèm theo các triệu chứng tổn thương hệ thần kinh trung ương gồm: nhức đầu dữ dội, buồn nôn và nôn mửa, cứng cổ, lú lẫn, mất định hướng, thay đổi nhân cách, co giật, rối loạn nghe và nói, ảo giác, mất trí nhớ, đờ đẫn, hôn mê. Tuy nhiên, ở trẻ nhỏ, các dấu hiệu trên không điển hình và khó phát hiện nên cần phải dựa vào một số dấu hiệu quan trọng là: nôn mửa, thóp phồng (nếu còn thóp), khóc không thể dỗ nín hoặc khóc tăng lên khi trẻ được bồng lên hoặc làm thay đổi tư thế, gồng cứng người.
Do viêm não có thể xuất hiện sau hoặc đồng thời với các bệnh nhiễm virut nên ở bệnh nhi có những triệu chứng đặc trưng của các bệnh này trước khi có biểu hiện viêm não. Viêm não cấp tính thường diễn biến từ 1- 3 tuần, nếu hồi phục cũng rất chậm, phải từ vài tuần đến vài tháng bệnh nhi mới hồi phục được chức năng tối đa.
Nếu viêm não tổn thương nặng đến thân não, nơi có trung tâm hô hấp, tuần hoàn, điều nhiệt... bệnh nhi dễ tử vong.
Chẩn đoán xác định bệnh, bác sĩ phải chọc lấy nước não tủy bệnh nhi xét nghiệm tìm thấy virut gây bệnh. Hoặc nuôi cấy phân lập được virut từ máu bệnh nhi. Các kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ não có thể thấy tổn thương do viêm não.
Phương pháp điều trị
Cho đến nay, khoa học vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu bệnh viêm não do virut. Mặc dù có thuốc kháng virut nhưng thuốc chỉ có tác dụng với một số loại virut chứ không phải tất cả các virut. Do đó, việc điều trị chủ yếu là hỗ trợ, nâng cao thể trạng cho bệnh nhi và chữa triệu chứng.
Bệnh nhi cần được điều trị tại bệnh viện có đủ phương tiện theo dõi và can thiệp kịp thời. Việc theo dõi và kiểm soát huyết áp, tần số tim, hô hấp, bồi phụ nước và điện giải và nhất là chống phù não rất quan trọng đối với bệnh nhi. Kháng sinh diệt virut dùng trong trường hợp viêm não do herpes simplex virus. Còn hấu hết các trường hợp viêm não không cần dùng kháng sinh vì không có tác dụng. Sử dụng corticosteroid, các dung dịch ưu trương để chống phù não. Dùng các thuốc an thần và chống co giật khi bệnh nhi bị co giật. Đối với các ca bệnh nặng, có rối loạn hô hấp, tuần hoàn, bệnh nhi cần được điều trị tích cực như thông khí nhân tạo, chống sốc... Việc điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhi có di chứng cũng rất quan trọng. Ở trẻ nhỏ dưới một tuổi thường bị bệnh nặng, có thể dẫn đến bại não.
Arbovirus gây viêm não.
Arbovirus gây viêm não.
Phòng bệnh viêm não
Do việc điều trị cũng rất khó khăn và nhiều di chứng nên phương châm đối phó với bệnh viêm não do virut là “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.
Bản thân bệnh viêm não thì không thể phòng ngừa được, nhưng chúng ta có thể phòng ngừa các bệnh có thể dẫn đến viêm não. Đó là các bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ em như sởi, quai bị, thủy đậu... có thể phòng ngừa bằng tiêm chủng. Đối với bệnh viêm não đã có vaccin như viêm não Nhật Bản B thì tiêm vaccin cho cả trẻ em và cả người lớn để bảo vệ.
Phòng bệnh viêm não do Arbovirus chủ yếu là chống muỗi đốt và diệt muỗi.
Chống muỗi đốt bằng cách mặc quần dài, áo dài tay, đeo tất che chân. Tránh cho trẻ em chơi ngoài trời vào lúc bình minh hoặc hoàng hôn, vì đây là thời điểm muỗi hoạt động mạnh nhất. Luôn ngủ trong màn kể cả ngủ ban ngày.
Diệt muỗi bằng cách: dùng các chất phun diệt muỗi. Phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh quanh nhà để loại bỏ nơi muỗi đậu và đẻ. Đậy kỹ các vật dụng chứa nước không cho muỗi bay vào đẻ trứng. Loại bỏ các dụng cụ có khả năng đọng nước như mảnh bát vỡ, gáo dừa, ống lon, vỏ xe... là nơi có thể chứa nước và muỗi để trứng.
Diệt lăng quăng bằng các phương pháp dân gian như thả cá bảy màu vào các nơi đựng nước; đậy kín các vật chứa nước không cho muỗi vào đẻ.
Gần đây, người ta còn diệt bọ gậy bằng hạt nở polystyrene: rải lên trên mặt nước nhằm tạo thành một lớp nổi phủ kín mặt nước. Với một lớp các hạt nở dày khoảng từ 1 - 2cm phủ hết toàn bộ mặt nước là đủ để ngăn muỗi đẻ trứng trên mặt nước và làm cho bọ gậy muỗi sẽ chết do không tiếp xúc được với mặt nước để thở. Đặc điểm của hạt nở polystyrene là không bị phân hủy và có khả năng nổi trên mặt nước được một vài năm. Hạt nở polystyrene không độc hại đối với người, động vật, cá và khi thả vào nước uống cũng bảo đảm an toàn.

ThS. Nguyễn Thế Minh

Rối loạn tiền đình và cách điều trị đúng

Rối loạn tiền đình (RLTĐ) biểu hiện bằng những cơn chóng mặt, do tổn thương hệ thần kinh của các vùng tai, tim mạch, mắt, tâm thần. Trước đây, RLTĐ chỉ phát triển trong nhóm bệnh nhân trung niên nhưng hiện nay RLTĐ đã xuất hiện ở người trẻ tuổi (trên 20 tuổi). Mức nguy hại của RLTĐ là những bệnh nhân có bệnh lý đi kèm, như thiếu máu não hoặc tăng huyết áp sẽ có nguy cơ đột quỵ dẫn đến tử vong.
Rối loạn tiền đình và cách điều trị đúng
Rối loạn tiền đình là triệu chứng rất hay tái phát.
Cần đi khám để phát hiện chính xác bệnh
RLTĐ là triệu chứng rất hay tái phát, ảnh hưởng đến công việc và chất lượng cuộc sống. Có hai loại rối loạn tiền đình.
RLTĐ ngoại biên: Biểu hiện chóng mặt khi thay đổi tư thế, đây là dạng bệnh lành tính, chỉ làm cho người bệnh khó chịu trong sinh hoạt. Trường hợp bệnh nặng, người bệnh không thể đi đứng được, cơn chóng mặt thường kèm theo nôn ói rất nhiều và nôn kéo dài, ù tai, giảm thính lực, nặng đầu, khó tập trung…
RLTĐ trung ương: Là bệnh lý thường gặp với những biểu hiện của tình trạng thiểu năng tuần hoàn não, người bệnh đi đứng khó khăn, khi thay đổi tư thế bị choáng váng, chóng mặt, thỉnh thoảng kèm theo nôn ói. RLTĐ trung ương là do có sự tổn thương nhân tiền đình, tổn thương đường liên hệ của các nhân dây tiền đình ở thân não, tiểu não mà nguyên nhân có thể là do xơ mỡ động mạch mang máu đến nuôi não bộ.
Để xác định chính xác, người bệnh cần đi khám tại chuyên khoa tai, mũi, họng và thần kinh. Bác sĩ sẽ chỉ định đo não đồ hoặc làm các xét nghiệm hình ảnh như chụp X quang, CT Scanner hoặc phải sử dụng cộng hưởng từ (MRI) để tìm đúng nguyên nhân gây hội chứng RLTĐ. Ngoài ra, RLTĐ còn xuất hiện ở những người thường xuyên làm việc căng thẳng, ít ngủ, thường uống rượu bia hoặc phụ nữ ở giai đoạn tiền mãn kinh.
Phòng tránh nguy cơ
Để phòng ngừa hội chứng RLTĐ cách tốt nhất là thường xuyên tập thể dục thể thao. Đối với người làm việc văn phòng cần tránh ngồi quá lâu trước máy vi tính. Thường xuyên thực hiện các bài tập vận động vùng đầu, cổ gáy. Tập đẩy hơi vào 2 tai bằng cách dùng 2 bàn tay áp vào 2 bên tai mỗi ngày 50 - 100 lần. Uống nước thường xuyên khoảng 2 lít/ngày, nên để ly nước lọc trên bàn làm việc để tập thói quen uống nước thường xuyên, tránh để quá khát mới uống nước.
Khi bệnh nhân đã mắc hội chứng RLTĐ thì phải cẩn trọng trong tư thế sinh hoạt, như không nên quay cổ một cách đột ngột hoặc đứng lên ngồi xuống quá nhanh, tránh lái xe hoặc điều khiển máy móc có động cơ mạnh để tránh tiếng ồn. Bệnh nhân cũng cần giảm căng thẳng, lo âu, tránh đọc sách báo khi ngồi ôtô, nên ngồi hoặc nằm ngay xuống nếu cảm thấy chóng mặt... Trường hợp chóng mặt kèm theo các triệu chứng như nhức đầu đột ngột, sốt từ 380C trở lên, mờ mắt, không nhìn rõ sự vật hoặc nhìn đôi (thấy 1 thành 2), mất thị lực, giảm thính giác... thì nên đi khám ngay tại chuyên khoa tai mũi họng, thần kinh.
Bệnh nhân tuyệt đối không tự mua thuốc uống theo mách bảo, theo đơn thuốc cũ vì ngoài RLTĐ, các dấu hiệu này có thể báo hiệu những bệnh lý nặng như tai biến mạch não, u não, bệnh Parkinson, bệnh tim mạch, bệnh đa xơ cứng.

BS. Nguyễn Tiến An

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons