Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

Đột quỵ - Nguyên nhân và cách phòng tránh

Đột quỵ là nguyên nhân đứng hàng thứ ba dẫn đến tử vong sau bệnh tim mạch và ung thư. Tại Mỹ mỗi năm có khoảng 600.000 người mới mắc và tái phát đột quỵ, trong đó 160.000 người tử vong. Tiên lượng của bệnh phụ thuộc rất nhiều vào việc sơ cấp cứu.
Hiện nay việc điều trị ngày càng có nhiều tiến bộ, điều này giúp giảm tỷ lệ tử vong và kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân nhưng mức độ tàn phế vẫn còn là một thách thức và là gánh nặng cho gia đình, xã hội.
Đột quỵ là hiện tượng máu lên não bị gián đoạn đột ngột, hậu quả là tế bào não bị chết do thiếu oxy. Có hai hình thái đột quỵ do thiếu máu não cục bộ và đột quỵ do xuất huyết não.
Nguyên nhân
 Trên khắp thế giới vẫn có những người phải nhận cái chết đột ngột không được báo trước
Nguyên nhân gây ra đột quỵ do thiếu máu não cục bộ thường do cục máu đông trong tim hay mảng xơ vữa trong mạch máu trồi lên não gây tắc mạch não.
Đột quỵ do xuất huyết não xảy ra khi một mạch máu trong não bị vỡ dấn đến thiếu máu cho vùng não do mạch máu đó chi phối.
Nguyên nhân thường gặp là cơn cao huyết áp, dị dạng mạch não bẩm sinh, rối loạn đông máu hoặc bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc chống đông.
Diễn biến
Đột quỵ thường xảy ra đột ngột với rất ít dấu hiệu báo trước. Những dấu hiệu cảnh báo cơn đột quỵ
Đột nhiên bị đau đầu dữ dội, choáng váng, mất tri giác, ngủ gà hoặc hôn mê
Gặp khó khăn trong nói hoặc hiểu người khác
Bị yếu đột ngột ở một phần cơ thể
Đột nhiên nhìn mờ hoặc nhìn nhòe, có thể chỉ bị ở một bên mắt
Tiểu tiện không tự chủ hoặc bí tiểu hoàn toàn
Khi thấy bất cứ dấu hiệu nào như kể trên, phải gọi xe cấp cứu ngay lập tức. Việc thăm khám và điều trị cần hết sức khẩn trương, đặc biệt trong khoảng 3 giờ đầu tiên.
Điều trị
Ngay khi vào viện bệnh nhân cần được khám lâm sàng, cận lâm sàng, xét nghiệm huyết học, ghi điện tim và đặc biệt là chụp cắt lớp điện toán (CT scan) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) để xác định chính xác nguyên nhân, vị trí và mức độ tổn thương. Điều này có tính quyết định đối với thái độ điều trị.
- Nguyên tắc điều trị:
An thần, thở máy.
Cung cấp đủ oxy cho não.
Chống phù não.
Chống tăng huyết áp.
Thuốc có tác dụng làm tiêu cục máu đông.
Kiểm soát tình trạng đông máu của bệnh nhân.
Nuôi dưỡng tốt.
Chống loét.
Chống nhiễm trùng.
Sơ cấp cứu
- Tai biến mạch máu não là một tình trạng khẩn cấp, cần gọi cấp cứu. Trong khi chờ xe cấp cứu, người nhà cần để bệnh nhân nằm yên, nới rộng quần áo, theo dõi sắc mặt, nhịp thở. Nếu bệnh nhân nôn cần để đầu nghiêng sang một bên, dùng tay lấy các chất nôn từ mũi và miệng bệnh nhân.
- Nếu bệnh nhân co giật, cũng cần để bệnh nhân nằm nghiêng, đề phòng bệnh nhân cắn vào lưỡi bằng cách dùng khăn vải quấn quanh một chiếc đũa hay cán thìa đặt giữa hai hàm răng của bệnh nhân.
- Tất cả các bệnh nhân cần được theo dõi ở khu săn sóc tích cực có sẵn các phương tiện hồi sức cấp cứu.

Hãy ăn nhiều rau và hoa quả để cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho cơ thể, giảm cholesterol trong máu
Phòng tránh Các bệnh gây tử vong hàng đầu ở nam giới chính là hậu quả của sự thiếu chăm sóc bản thân ngay từ thời thanh niên và phần lớn đều có thể phòng ngừa.
- Cần giảm các yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch:
Phát hiện caoáp huyết sớm và chữa cao áp huyết tốt, nhất là ở những người trên 40 tuổi, có tiền sử gia đình cao áp huyết và bệnh tim mạch.
Điều trị rối loạn nhịp tim.
Giảm cholesterol trong máu, ăn ít chất béo, giảm muối, ăn nhiều rau và hoa quả.
Phát hiện và điều trị tiểu đường.
Không hút thuốc lá, hạn chế uống rượu.
Không dùng các chất kích thích hoặc ma túy.
Thường xuyên vận động và tập luyện.
- Ngoài ra cần chú ý:
Tránh tắm khuya hoặc ở nơi gió lùa, đặc biệt với người cao huyết áp.
Tránh trạng thái căng thẳng thần kinh, xúc động mạnh. Tránh mất ngủ
Tránh táo bón, đặc biệt với người già.
Tránh vận động thể lực quá mức như mang vác nặng, chơi thể thao quá sức.
Chăm sóc tại nhà
- Sinh hoạt, tập luyện.
- Trong trường hợp bệnh nặng, bệnh nhân chưa tự vận động được, người nhà phải giúp thay đổi tư thế 3 giờ một lần để tránh loét. Mỗi lần lật người, cần xoa rượu, cồn hoặc phấn rôm vào lưng, mông và các vị trí bị tì đè khác. Khi cho ăn uống, nên kê gối sau lưng bệnh nhân giữ ở tư thế nửa nằm, nửa ngồi để tránh bị sặc vào đường thở.
- Đối với trường hợp nhẹ hơn, tùy mức độ di chứng liệt, cần đề ra một kế hoạch cụ thể cho bệnh nhân tập luyện hàng ngày. Cố gắng để bệnh nhân tự làm ở mức tối đa, người nhà chỉ hỗ trợ hoặc giúp đỡ khi bệnh nhân không thể tự làm được. Quá trình tập luyện đòi hỏi sự kiên trì của cả bệnh nhân và người hướng dẫn. Nên duy trì việc này cả khi các di chứng đã được phục hồi.
Chế độ ăn
- Cần đảm bảo chế độ ăn đủ chất và cân đối. Nên dùng dạng thức ăn mềm, dễ tiêu như cháo, súp, sữa, nước hoa quả tươi. Kiêng sử dụng các chất béo và chất kích thích (rượu, bia, chè đặc, cà phê), hạn chế dùng muối.
Theo BS Đặng Hạnh Sơn
(BV Tim Hà Nội)

Những điều cần biết về bệnh Horton

Bệnh Horton gây viêm ở nhiều động mạch như: động mạch não, cảnh, sống nền, tủy sống, mắt, hàm, lưỡi, chủ, chậu, mạc, treo, vành, phổi... Biểu hiện của bệnh Horton rất đa dạng, khó chẩn đoán sớm, tỷ lệ tử vong khoảng 10% do tổn thương tại các động mạch quan trọng của cơ thể.

 Hình ảnh viêm động mạch thái dương.
Horton là bệnh viêm động mạch khu trú chủ yếu ở động mạch thái dương nông. Năm 1932, lần đầu tiên Horton và G.E.Brown mô tả và đặt tên là bệnh viêm động mạch thái dương (arteritis temporalis). Hiện nay, người ta thấy đây là bệnh viêm động mạch toàn thân, trong đó chỉ có 1/3 trường hợp là viêm ở động mạch thái dương nông và các nhánh của động mạch cảnh ngoài. Có nhiều thuyết khác nhau về bệnh Horton: Horton và Frangenheim cho rằng bệnh do vi khuẩn đặc hiệu nên xếp vào nhóm bệnh u hạt nhiễm khuẩn (granulome infecteeusr); Zeek, Morrison Abithol cho là dị ứng quá mẫn nên xếp vào nhóm những bệnh mạch máu do dị ứng; Miehlke lại xếp vào nhóm bệnh tạo keo. Gần đây Sauerruch, Dorstelman... thiên về giả thiết Horton là bệnh tự miễn; một số tác giả cho là di truyền, do virut viêm gan B và Treponema pallidum.
Yếu tố dịch tễ
Bệnh Horton xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới trong đó nhiều nhất là người da trắng, số ít ở châu Phi, ở Việt Nam đã ghi nhận vài chục trường hợp. Tỷ lệ mắc bệnh ở nữ gấp đôi nam. Bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng gặp nhiều ở độ tuổi trên 60. Yếu tố di truyền có thể giữ vai trò quan trọng trong bệnh Horton.
Biểu hiện của bệnh
Bệnh khởi phát và tiến triển kín đáo. Các triệu chứng về mắt gặp nhiều theo thứ tự là: phù nề gai thị; tắc động mạch võng mạc trung tâm; nhìn đôi; thị trường thu hẹp; ám điểm trung tâm, đau hố mắt. Kèm theo các biểu hiện: nhức đầu, đau cơ khớp, đai vùng thắt lưng, cơ đai vai; sốt; hội chứng thiếu máu...
Những triệu chứng ở đầu:
- Nhức đầu là dấu hiệu nổi bật nhất, buộc bệnh nhân phải đi khám bệnh vì dùng thuốc giảm đau nào cũng không chịu được cơn đau đầu. Đây là đặc điểm giúp cho chẩn đoán bệnh Horton. Điển hình là nhức đầu vùng thái dương một hoặc hai bên. Đau thường xuyên kiểu tăng cảm, đau cháy của da đầu, đột nhiên xuất hiện cơn đau đầu kịch phát tại một điểm ở thái dương. Cơn đau xuất hiện tự nhiên hay do một kích thích dù rất nhẹ như: gọng kính, lược chải tóc... hay đau về đêm, đau tăng lên bởi lạnh; đau rất dữ dội, bệnh nhân phải lấy tay ôm đầu, vật vã, kêu la; đau kéo dài 1-3 giờ, mỗi ngày xuất hiện hai ba cơn; thậm chí có cơn kéo dài trên 10 giờ, ngày một cơn nên bệnh nhân rất khổ sở vì đau đớn.
- Triệu chứng tại chỗ của động mạch thái dương nông có giá trị chẩn đoán bệnh: vùng động mạch thái dương với màu sắc đỏ tím, thâm viêm nhiễm, ngoằn ngoèo, dày cứng, ấn đau, sờ thấy động mạch có chỗ to nhỏ không đều, đập yếu hoặc không đập.
- Bệnh còn gặp ở các động mạch: mặt, sau mắt, chẩm. Tổn thương động mạch mặt, gây thiếu máu cục bộ ở những cơ nhai, biểu hiện bằng dấu hiệu đặc trưng "khập khiễng hàm". Có khi gặp đau lưỡi, nuốt khó do tổn thương những động mạch chi phối các vùng đó.
Triệu chứng toàn thân:
- Suy nhược, chán ăn, gầy sút, sốt nhẹ hoặc, sốt cao kiểu cao nguyên.
- Giả viêm đa khớp gốc chi: có dấu hiệu thâm nhiễm viêm ở những cơ đai, nhất là đai vai: đau cân đối hai bên, có khi bệnh nhân phải nằm liệt giường nhưng không hạn chế vận động các khớp và không có tổn thương xương khớp trên hình ảnh Xquang; rất nhạy cảm với những thuốc chống viêm corticoid và không corticoid.
Tổn thương mắt: Có thể có biến chứng mù một mắt, sau đó lan sang mù cả hai mắt do tắc nghẽn hoàn toàn động mạch mắt. Tùy mức độ tổn thương động mạch mắt mà biểu hiện các triệu chứng: nhìn đôi, liệt cơ mắt, co đồng tử một bên, mù thoảng qua, ám điểm trung tâm, rối loạn thị trường, màn sương mù, sợ ánh sáng, ảo thị giác...
Các triệu chứng khác ít gặp và dễ nhầm với các bệnh khác như: Nhồi máu não, viêm dây thần kinh, phồng động mạch chủ, thiểu năng động mạch chủ hay động mạch vành; bệnh phế quản, phổi; viêm động mạch ngoài sọ và trong sọ, viêm động mạch ở các chi. Bệnh Horton dễ bị bỏ sót ở các thể bệnh như: toàn thân suy sụp dần; sốt đơn thuần kéo dài; đi khập khiễng cách hồi; cơn đau thắt hay tai biến thiếu máu cục bộ ở những cơ quan do ngành lớn hay thân động mạch chủ chi phối.
Các xét nghiệm có giá trị chẩn đoán: Sinh thiết động mạch; Doppler, chụp động mạch cảnh ngoài hỗ trợ cho sinh thiết được chính xác.
Điều trị
Giới chuyên môn thống nhất rằng: Khi đã có hướng dẫn chẩn đoán lâm sàng về bệnh Horton thì nên bắt đầu điều trị ngay bằng corticoid để dự phòng những biến chứng về mắt. Mặt khác nếu điều trị bằng corticoid mà các triệu chứng chủ yếu được cải thiện thì đây coi như một test chẩn đoán thực sự của bệnh.
Liệu pháp coritcoid là biện pháp điều trị duy nhất có hiệu quả. Những biến chứng nguy hiểm của bệnh Horton có thể tránh được nếu bắt đầu điều trị nhanh, coi như cấp cứu khi đã xuất hiện những tổn thương về mắt. Chỉ khi nào thị lực mới mất một phần thì liệu pháp corticoid còn có khả năng hồi phục thị lực, nhưng đã mất hoàn toàn thị lực thì không hồi phục. Hiệu quả điều trị có tác dụng ngay, giảm sốt, giảm đau trong ngày; viêm nhiễm giảm dần và tốc độ lắng hồng cầu trở lại bình thường trong 1-2 tháng. Phải dùng corticoid hằng ngày, một lần vào buổi sáng, còn nếu dùng cách nhật kém hiệu quả. Những thuốc chống viêm không steroid có thể dùng kết hợp với corticoid trong giai đoạn điều trị củng cố. Thuốc chống đông được dùng để chống thiếu máu cục bộ.
ThS. Nguyễn Hoàng Lan
 
 

Cần điều trị tận gốc tiền chứng đột quỵ não (Kỳ II)

Kỳ II: Nguyên nhân và cách điều trị tiền chứng đột quỵ não
Vì sao xảy ra tiền chứng đột quỵ não?

 Mạch máu não.
Hẹp hay bít tắc lòng động mạch do cục huyết khối fibrin hoặc mảng cholesterol tích tụ được tạo thành do vữa xơ động mạch (VXĐM) hay mảnh canxi tách ra từ các van tim bị bệnh. VXĐM chính là do nguồn gốc rối loạn lipid máu. Nếu đường kính động mạch bị giảm sẽ dẫn tới sự thay đổi huyết động, giảm lưu lượng tuần hoàn não cục bộ tại các vùng do mạch máu đó nuôi dưỡng. Ở hệ động mạch cảnh, VXĐM khu trú ở đầu trung tâm của động mạch này sẽ gây hẹp đường kính động mạch từ 1-2mm gây thiếu máu ở võng mạc mắt và khu vực não của phần trước bán cầu đại não. Ở hệ động mạch sống - nền, các chồi xương và gai xương do thoái hóa cột sống lấn vào các lỗ ngang đốt sống gây chèn ép động mạch sống, cản trở dòng máu từ tim lên phần sau (thùy chẩm), bán cầu não và cả tiểu não, thân não. Tăng huyết áp, nhất là bệnh não - tăng huyết áp gây co thắt mạch não, dẫn đến phá vỡ hàng rào máu não với suy giảm trương lực thành mạch gây thiếu máu cục bộ tại khu vực não do động mạch đó nuôi dưỡng. Riêng trường hợp huyết áp động mạch bị giảm thấp (huyết áp tâm thu giảm tới mức từ 80mmHg trở xuống) do các bệnh tim mạch, bệnh lý toàn thân hay do giảm huyết áp tư thế (từ nằm ngang đột ngột đứng dậy) cũng gây cơn thiếu máu não tạm thời toàn bộ não (cả hai hệ động mạch cảnh và hệ sống - nền). Rất ít trường hợp gây thiếu máu não cục bộ. Người ta cho rằng đó là do cơ chế co mạch não, nhất là người bệnh đã sẵn bị VXĐM, bệnh tăng hồng cầu, bệnh lý về máu, giảm đường huyết, đái tháo đường.
Các yếu tố thuận lợi khởi phát cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời (TMNCBTT): Thay đổi thời tiết đột ngột, nhất là thời điểm giao mùa và mùa đông dễ xảy ra hơn mùa hè. Trạng thái căng thẳng thần kinh trong đời sống nghề nghiệp hoặc môi trường xã hội và trong quan hệ sinh hoạt gia đình.
Chẩn đoán phân biệt
Trên lâm sàng cơn TMNCBTT có nhiều triệu chứng của các rối loạn về tuần hoàn, mạch máu não, về thần kinh trung ương và thực vật và liên quan nhiều đến các bệnh toàn thân (tim mạch, thoái hóa cột sống cổ...) nên phải chẩn đoán phân biệt với nhiều chứng bệnh. Điều đó đòi hỏi phải có chọn lọc, cân nhắc toàn diện, nhất là đối với những trường hợp có những triệu chứng báo hiệu sớm ban đầu của một số bệnh cấp tính đe dọa sinh mạng người bệnh. Cần phân biệt TMNCBTT với cơn đột quỵ mạch máu não (chảy máu não, nhồi máu não), chảy máu dưới màng nhện, hội chứng tăng áp nội sọ; cơn thiếu máu cơ tim; ngất; bệnh não - tăng huyết áp; cơn giảm huyết áp do hạ đường huyết, do tư thế đứng đột ngột; hội chứng Menière; một số thể của bệnh đau nửa đầu, cơn động kinh nhỏ, vắng ý thức và cơn động kinh cục bộ; bệnh VXĐM (ngoài sọ, trong sọ, động mạch chủ); suy nhược thần kinh, suy não tuổi già. Ngoài ra còn nhiều loại bệnh toàn thân khác cần nghĩ tới sau đợt điều trị nghẽn cách cơn thiếu máu não mà diễn biến bệnh không mấy thuyên giảm như các bệnh rối loạn thành phần máu (hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu), dị dạng động mạch não, máu tụ dưới màng cứng, u não...
Điều trị cơn TMNCBTT
Sau khi đã có chẩn đoán xác định là thiếu máu não do khu trú ở hệ động mạch cảnh hay hệ động mạch sống - nền cần phải điều trị theo nguyên nhân gây bệnh; điều trị hội chứng cấp tính càng sớm càng tốt để bổ sung kịp thời cung lượng máu cho vùng bán cầu, quanh ổ thiếu máu; xử trí nhanh các yếu tố nguy cơ chủ yếu có thể đe dọa diễn biến bệnh thành đột quỵ nhồi máu não. Đây là thời cơ tranh chấp thời gian tính từng giây, từng phút để khôi phục tuần hoàn vi mạch tại mô não vùng thiếu máu; điều trị dự phòng ngăn chặn tái phát bằng các biện pháp chống ngưng kết tiểu cầu và chống đông máu tạo cục huyết khối, tắc nghẽn lòng động mạch. Sau cơn thiếu máu não, điều quan trọng nhất là điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu dựa trên kết quả xét nghiệm cholesterol, triglycerid, LDL - C và HDL - C. Niacin có tác dụng lớn làm tăng mức LDL (giảm tổng hợp LDL) và đặc hiệu dùng cho tăng glycerid với liều 5-12mg/ngày. Lovastin có tác dụng ngăn chặn tổng hợp cholesterol, làm giảm lượng LDL và tăng HDL, thường dùng với liều 20-40mg/ngày. Lipanthyl, fenbrat được dùng trong trường hợp tăng triglycerid, thường dùng từ liều thấp 100mg/ngày, 200mg/ngày và tối đa là 300mg/ngày. Thuốc điều trị phục hồi chức năng nhằm điều trị rối loạn thị giác và thính giác, căn nguyên bệnh lý mạch máu và rối loạn chức năng vỏ não (trí nhớ, trí tuệ...).
Các biện pháp dự phòng
 Fibrin gây bít tắc động mạch.
Phát hiện sớm và theo dõi điều trị các bệnh tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường, bệnh mạch vành. Chú trọng phát hiện tiếng thổi tâm thu của động mạch cảnh ở cổ, một triệu chứng đặc hiệu của hẹp động mạch cảnh là nguy cơ đe dọa nhồi máu cơ tim và đột quỵ não.
Duy trì chế độ sinh hoạt hợp lý: Giảm các yếu tố gây béo phì, chế độ ăn uống hợp lý, tránh tăng mỡ máu; bệnh thiếu vận động sẽ gây nhiều hậu quả có hại, nhất là ở người cao tuổi. Cần duy trì các hoạt động thể lực thích hợp với lứa tuổi và bệnh tật vốn có. Tránh các chấn động thần kinh, lo âu, buồn rầu và đời sống cô đơn. Có chế độ vui chơi, giải trí thích hợp và điều độ. Duy trì chu trình sinh học thức - ngủ là yếu tố rất quan trọng, tránh các tác nhân gây mất ngủ.
Các yếu tố gây giảm huyết áp quá mức cần được xử trí tích cực, kịp thời: Bệnh giảm huyết áp hệ thống, bệnh thiếu máu, bệnh đa hồng cầu; giảm huyết áp tư thế đứng do dùng thuốc hay do hạ đường huyết. Không hút thuốc lá, thuốc lào. Tránh hít thở không khí có khói thuốc. Sinh hoạt trong môi trường lành mạnh, tránh các kích thích quá mức của âm thanh và ánh sáng. Sự thay đổi khí hậu và thời tiết có tác động rất nhạy cảm, khởi phát cơn thiếu máu não nhất là khoảng thời điểm giao mùa, thay đổi đột ngột từ môi trường không khí giữa lạnh và nóng với khoảng cách quá cao cũng là yếu tố thuận lợi gây tái phát cơn thiếu máu não.
 
PGS. Vũ Quang Bích
 
 

Cần điều trị tận gốc tiền chứng đột quỵ não (Kỳ I)

Kỳ I: Dấu hiệu tiền chứng đột quỵ não
Theo phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (năm 1992), cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời (CTMCBTT), có đặc điểm xuất hiện đột ngột, có triệu chứng thần kinh khu trú, tồn tại trong thời gian ngắn không quá 24 giờ, phục hồi triệu chứng hoàn toàn và có xu hướng lặp lại nhiều lần (tái phát). CTMNCBTT có ý nghĩa rất quan trọng vì nó là tiền đề báo trước một đột qụy nhồi máu não sẽ xảy ra.
Trên cơ sở những đặc điểm trên lâm sàng CTMNCBTT, người ta phân ra hai loại CTMNCBTT: CTMNCBTT hệ động mạch cảnh và CTMNCBTT hệ động mạch sống - nền.
Cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời của hệ động mạch cảnh
Mạch máu bị chít hẹp gây nhồi máu não. 
Trong cơn thiếu máu não này chủ yếu là do bít tắc ở động mạch cảnh chung và động mạch cảnh trong bởi vữa xơ động mạch tạo nên cục nghẽn tiểu cầu, fibrin hay cholesterol tích tụ lớp nội mạch thành động mạch tách ra các mảnh nhỏ gây vi nghẽn tắc mạch tại các nhánh động mạch nhỏ hoặc do cục tắc canxi từ van tim. Bình thường, đường kính của lòng động mạch cảnh trong có kích thước trung bình là 7,0mm. Khi đường kính này giảm do cục nghẽn tắc xuống từ 1-2mm sẽ dẫn tới sự biến đổi huyết động trong võng mạc và tuần hoàn não. Từ các khu vực thiếu máu nuôi dưỡng đó phát sinh ra các triệu chứng của cơn TMNTT, phần lớn ở vỏ não của bán cầu đại não trái và ở võng mạc. Do đó trên lâm sàng chủ yếu là các rối loạn chức năng về mắt (võng mạc) và những triệu chứng do tổn thương của bán cầu đại não.
Những triệu chứng về võng mạc mắt
Mù một mắt thoảng qua là triệu chứng đặc hiệu, phổ biến nhất. Thường gặp là đột ngột bệnh nhân thấy mắt nhìn mờ, như qua lớp sương mù, rồi mất thị lực một mắt hay một phần của thị trường, kéo dài từ vài giây đến vài phút, sau cơn mắt lại nhìn được bình thường. Mù thoảng qua thường xuất hiện trước, hiếm thấy xảy ra đồng thời với triệu chứng khu trú thần kinh
Những triệu chứng về não
Tùy theo động mạch não nuôi dưỡng từng vùng bán cầu đại não bị thiếu máu mà có những biểu hiện lâm sàng đặc trưng khác nhau: nếu thiếu máu ở bán cầu não trái sẽ xuất hiện: rối loạn ngôn ngữ hoặc mất ngôn ngữ vận động (phát âm), loạn phối hợp từ ngữ hoặc mất ngôn ngữ một phần. Thời gian rối loạn ngôn ngữ thường kéo dài 1 - 6 giờ. Hiếm gặp mất ý thức; rối loạn tâm thần thường có biểu hiện trạng thái lo âu khi cơn TMNTT tái phát nhiều lần; liệt nửa người đối bên, không đồng đều giữa tay và chân, bàn tay, mặt thường nặng hơn chân. Có thể thấy tê ngón tay, tê mặt và môi. Đó là do thiếu máu ở khu vực não do động mạch não giữa nuôi dưỡng. Các triệu chứng trên có thể được hồi phục trở lại trong vài giờ, có khi tới 24 giờ sau mới hồi phục hoàn toàn; rối loạn cảm giác thường gặp là dị cảm nửa người kéo dài từ 1 - 6 giờ. Trường hợp liệt nửa người nặng thường kèm theo rối loạn cảm giác kết hợp cùng bên.
Cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời ở hệ động mạch sống - nền
Biểu hiện lâm sàng của cơn TMNTT rất phức tạp, đa dạng, các biểu hiện lâm sàng của các vùng não bị thiếu máu sẽ xuất hiện, có khi đơn phương trước, lại có lúc xảy ra đồng thời, kết hợp hay xen kẽ nhau của các rối loạn huyết động, rối loạn thần kinh trung ương và cả hệ thần kinh thực vật.
Các triệu chứng chủ yếu:

      Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy nếu thiếu máu não xảy ra ở khu vực động mạch cảnh, tỷ lệ bị đột qụy não chiếm từ 22-33% trường hợp. Đột quỵ não có thể xảy ra sau cơn thiếu máu não đầu tiên trong một tháng (20%) và khoảng 50% trong một năm. Nếu người bệnh được điều trị kịp thời và có biện pháp dự phòng tái phát thì vẫn có thể thoát được đột qụy nhồi máu não.
Rối loạn tiền đình và rối loạn thăng bằng.
- Chóng mặt: Bệnh nhân có cảm giác quay như bị đẩy sang một bên, bồng bềnh như ngồi thuyền. Các cơn này xuất hiện khi thay đổi tư thế đầu đột ngột, gập cổ, nghiêng đầu cổ về một bên, nhất là ngửa cổ quá mức. Đây là triệu chứng đặc hiệu quan trọng, thường gặp tới 80% trường hợp TMNTT.
- Đau đầu: Thường bệnh nhân có cảm giác căng, kéo, nảy như nhịp của mạch, khu trú ở vùng chẩm, hoặc chẩm - gáy. Trên 80% trường hợp TMNTT đau đầu xuất hiện sớm nhất.
- Rối loạn vận nhãn cầu và thị lực: Đây cũng là triệu chứng tương đối phổ biến, thường gặp tới khoảng 50% trường hợp. Bệnh nhân thấy nhìn mờ, như bóng tối, có khi mất thị lực hoàn toàn (mù vỏ não) trong một vài giờ. Nhìn đôi, lác mắt do tổn thương các dây thần kinh sọ não III, IV, VI. Trường hợp nặng có thể xuất hiện liệt nhìn sang một bên, liệt hội tụ nhãn cầu (hội chứng Parinaud). Còn có trường hợp bán manh, khuyết 1/4 thị trường.
l Rối loạn thính giác: Thường gặp là cảm giác có tiếng như ve kêu, ù ù như xay lúa, hay eng eng trong đầu. Có khi đột ngột ù cả hai tai, nghe tiếng động xa xăm, điếc hẳn một bên hay cả hai tai trong thời gian từ vài phút đến vài giờ.
- Cơn sụp đổ: Trong khi đứng hay đang đi, đột ngột thấy choáng váng hay chóng mặt, rồi rất nhanh sụp khuỵu gối xuống nhưng vẫn tỉnh táo nhận biết được những gì đã xảy ra. Sau đó lại vận động đi lại bình thường.
- Rối loạn vận động: Liệt nửa người ở các mức độ khác nhau, có kèm theo tổn thương dây thần kinh sọ não bên đối diện (hội chứng giao bên). Có thể liệt mặt (dây thần kinh sọ não số VII) trung ương và liệt nhẹ hai chân, có khi liệt tứ chi trong trường hợp tổn thương ở cầu não...
- Rối loạn cảm giác: Phần lớn là rối loạn cảm giác nông (đau, nóng, lạnh): giảm hoặc mất cảm giác nửa người (do tổn thương bó gai - thị). Rối loạn cảm giác chủ quan, biểu hiện cảm giác kim châm, kiến bò, nóng rát (dị cảm) ở một hay hai bên mặt (thiếu máu ở cầu não).
- Các triệu chứng hỗn hợp khác: Có một số trường hợp liệt họng - hầu, thanh quản kiểu trung ương, giảm sức co tứ chi (hội chứng giả hành não); giảm trí nhớ hiện tại, nhầm lẫn tạm thời, trầm cảm; giảm hoặc mất khả năng hoạt động sinh dục tạm thời, rối loạn nhịp tim do rối loạn thần kinh thực vật kiểu kết hợp; một số triệu chứng của rối loạn chức năng của tiểu não thường do cuống tiểu não dưới bị xâm phạm, như thiếu phối hợp vận động ở tay hoặc chân.
PGS. Vũ Quang Bích
 
 
 

Cách phát hiện, xử trí, phòng tránh cơn thiếu máu não

Bệnh nhân bị cơn thoáng thiếu máu não gây mất tri giác đột ngột trong vài giây, sau đó tri giác tự phục hồi nhưng dễ tái phát. Đó là triệu chứng của bệnh mạch máu não, là dấu hiệu báo trước của tai biến mạch máu não. Vì vậy cơn thoáng thiếu máu não được coi là một cấp cứu khẩn cấp, cần được chẩn đoán điều trị kịp thời.
Nguyên nhân và các yếu tố gây bệnh
Cơn thoáng thiếu máu não thường xảy ra đột ngột trong khoảng thời gian ngắn do sự lưu thông của máu trong động mạch bị giảm vì động mạch bị hẹp, bị co thắt hoặc bị tắc nghẽn do một cục máu đông từ tim hay một mảng vữa xơ từ động mạch lớn lưu thông đến một mạch máu nhỏ ở não.
Có nhiều yếu tố dẫn đến cơn thoáng thiếu máu não, đó là: di truyền, những người có cha mẹ bị bệnh tim mạch dễ bị cơn thoáng thiếu máu não; người trên 60 tuổi; giới tính: ở nam cơn thoáng thiếu máu não gặp nhiều hơn nữ; người béo phì; mắc các bệnh như: tăng huyết áp, bệnh van tim, suy tim, tiểu đường, cholesterol máu cao, hút thuốc lá, sử dụng ma túy...

Huyết khối gây tắc mạch làm thiếu máu nuôi vùng não liên hệ. 
Biểu hiện của cơn thoáng thiếu máu não như thế nào?
Mỗi vùng của não được nuôi dưỡng bằng một mạch máu riêng, nếu các mạch máu này bị hẹp hoặc bị bít tắc, làm giảm sự tưới máu cho phần não mà mạch máu chi phối sẽ gây rối loạn chức năng của vùng não đó. Não là tổ chức tiêu thụ nhiều ôxy nhất khi hoạt động và rất nhạy cảm với tình trạng thiếu ôxy. Nếu thiếu dưỡng khí trong 4 -5 phút, các tế bào não đã bị huỷ hoại không phục hồi được nữa. Chúng ta biết rằng mỗi phần của não lại chi phối một bộ phận của cơ thể: về vận động, cảm giác, về ngôn ngữ, về tri giác, xúc giác, thính giác, khứu giác, thị giác, vị giác... Vì vậy khi một vùng não bị tổn thương sẽ xuất hiện triệu chứng của phần cơ thể mà vùng não chi phối như: vùng vận động của não bị tổn thương thì bệnh nhân bị liệt (liệt chi hoặc liệt nửa người); vùng ngôn ngữ bị tổn thương thì bệnh nhân nói ngọng hoặc không nói được nữa... Nếu sự tưới máu chỉ giảm trong một thời gian ngắn chưa làm chết các tế vào thần kinh thì triệu chứng chỉ thoáng qua. Trường hợp mạch máu bị tắc nghẽn hoàn toàn thì các tế bào thần kinh bị tổn thương vĩnh viễn, các triệu chứng trở thành di chứng vĩnh viễn của tai biến mạch máu não. Dấu hiệu của cơn thoáng thiếu máu não xuất hiện đột ngột khi bệnh nhân đang sinh hoạt bình thường như: bất tỉnh; nhức đầu; yếu nhẹ hoặc liệt nửa người; nói ngọng hay không nói được; một mắt hoặc cả hai mắt bỗng không nhìn thấy; tự nhiên mất thăng bằng, chóng mặt, đi hay đứng không vững... Các dấu hiệu trên chỉ kéo dài khoảng 1-10 phút, hiếm khi kéo dài quá một giờ. Do đó khi triệu chứng kéo dài quá một giờ, được xem như bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, khi đó não đã bị tổn thương vĩnh viễn.
Nếu bệnh nhân được chuyển đến cơ sở y tế trong những phút đầu tiên, có thể thấy: tăng huyết áp, rối loạn tri giác, mất định hướng, lơ mơ hoặc bất tỉnh, có dấu hiệu liệt mặt và liệt nửa người, nói ngọng hay không nói được, không hiểu được ngôn ngữ, rối loạn nhịp tim, dấu hiệu tắc hẹp động mạch cổ. Xquang cắt lớp không thấy hình ảnh chảy máu hay tổn thương não. Tuy nhiên để chẩn đoán chính xác cần phân biệt với các bệnh có triệu chứng tương tự như: ngất, động kinh, hạ đường huyết, rối loạn tiền đình...
Thái độ xử trí
Cơn thiếu máu não được xem là một cấp cứu khẩn cấp, khi cơn thoáng thiếu máu não mới xảy ra, cần gọi cấp cứu hay chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất để khám, làm các xét nghiệm để loại trừ trường hợp tai biến mạch máu não và điều trị khẩn cấp. Việc điều trị phải kết hợp với các nỗ lực nhằm giảm các yếu tố gây bệnh như: điều trị tăng huyết áp, tiểu đường, cholesterol máu cao, bệnh tim mạch, loạn nhịp tim, chống đông máu, bỏ hút thuốc lá... Bệnh nhân có thể phục hồi hoàn toàn trong vài phút hay trong khoảng một giờ. Nhưng cần lưu ý rằng bệnh nhân có thể bị tái phát nhiều lần và dẫn tới bị tai biến mạch máu não thật sự với các biểu hiện hôn mê và liệt nửa người vĩnh viễn, thậm chí có thể tử vong. Một nghiên cứu cho thấy trong số những người bị cơn thoáng thiếu máu não có 7% bị tai biến mạch máu não trong tuần lễ đầu, trong đó 50% bị tai biến ở 2 ngày đầu; 14% bị tai biến mạch máu não trong thời gian 3 tháng sau khi xuất hiện cơn thoáng thiếu máu não đầu tiên.
Phòng tránh cơn thoáng thiếu máu não
Muốn phòng tránh cơn thoáng thiếu máu não hiệu quả có thể áp dụng một hay nhiều phương pháp sau đây: uống aspirin liều thấp, hay plavix, aggrenox hoặc thuốc chống đông máu nhằm giảm nguy cơ bị vữa xơ và hẹp động mạch; phẫu thuật hay nong động mạch cổ đối với những người bị hẹp động mạch cổ gây thiếu máu não. Loại bỏ các nguy cơ gây bệnh như: điều trị tăng huyết áp, tiểu đường, bệnh tim mạch, bỏ thuốc lá...
Như vậy cơn thoáng thiếu máu não là một dấu hiệu báo trước của tai biến mạch máu não. Do đó những bệnh nhân bị cơn thoáng thiếu máu não cần được thăm khám khẩn cấp hoặc càng sớm càng tốt để định bệnh và điều trị kịp thời, ngăn ngưa tai biến mạch máu não.
BS. Phạm Thanh Tùng


Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

Phòng ngừa tai biến mạch máu não thế nào?

TS. Nguyễn Quang Tuấn
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một thuật ngữ chung để chỉ các bệnh nhồi máu não (do tắc mạch não) và chảy máu não (do xuất huyết não). Bệnh hay gặp ở người lớn tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do vữa xơ động mạch và tăng huyết áp. Đôi khi do các cục huyết khối từ nơi khác gây thuyên tắc động mạch não như huyết khối trong tâm nhĩ, tâm thất hay gặp ở những bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim (rung nhĩ), nhồi máu cơ tim, suy tim nặng, bệnh van tim... Việc phòng ngừa bệnh phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ của mỗi người.
Những ai có nguy cơ bị TBMMN?
Chảy máu não. 
TBMMN là tình trạng một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi do tắc hoặc vỡ mạch máu não. Khi thiếu máu lên não, các tế bào não sẽ ngưng hoạt động và sẽ chết đi trong vài phút. Hậu quả là các vùng cơ thể do phần não đó điều khiển sẽ ngưng hoạt động, dẫn tới yếu liệt, tê, mất cảm giác nửa người, không nói được hoặc hôn mê, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Nhiều trường hợp được cứu sống nhưng có thể bị tàn phế suốt đời, giảm tuổi thọ và không còn khả năng lao động, khó hoà nhập cuộc sống bình thường.
TBMMN xuất hiện do lòng động mạch máu nuôi não bị tắc do mảng xơ mỡ đóng ở thành mạch dày lên dần, làm hẹp lòng mạch; Xuất hiện cục máu đông di chuyển từ tim do tim bị bệnh loạn nhịp hoặc bệnh hẹp - hở van tim khiến máu ứ lại, đóng thành cục máu đông trong tim, sau đó chảy lên não làm kẹt lại gây tắc mạch máu não; Xuất huyết não (mạch máu bị vỡ làm chảy máu, chèn ép não bộ) và xuất huyết khoang dưới nhện (mạch máu bị phình rồi vỡ ra làm máu chảy vào khoang trống bao quanh não).
Người có nguy cơ TBMMN cao là người trên 55 tuổi, người bị tăng huyết áp, đái tháo đường, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu, các bệnh mạch vành, van tim, loạn nhịp tim, hút thuốc lá, béo phì- thừa cân, lười vận động và bị stress nặng hay thường xuyên.
Phòng ngừa bệnh như thế nào?
Mặc dù TBMMN là bệnh nguy hiểm song hoàn toàn có thể giảm được nguy cơ bệnh nếu biết cách phòng ngừa, đó là:
Liệu pháp thay đổi lối sống (thực hiện chế độ ăn kiêng và hoạt động thể lực) là biện pháp quan trọng làm giảm nguy cơ bị vữa xơ động mạch nói chung và tai biến mạch máu não nói riêng. Liệu pháp thay đổi lối sống bao gồm: Cai thuốc lá; có chế độ dinh dưỡng giàu vitamin, khoáng chất, hạn chế ăn quá nhiều chất béo và các thực phẩm giàu calo, liệu pháp dinh dưỡng còn nhằm làm giảm lượng lipid máu, giảm huyết áp và giảm đường máu nếu bệnh nhân bị đái tháo đường; Tăng hoạt động thể lực sẽ làm cải thiện tình trạng tim mạch và làm cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch như rối loạn lipid máu, béo phì và tăng huyết áp.
Sơ đồ mạch máu não.
Phòng ngừa tình trạng đông máu bằng thuốc: Tình trạng tăng đông có thể ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch. Điều trị bằng aspirin có lợi trong phòng ngừa tiên phát và thứ phát cho các bệnh nhân bị nhồi máu não. Liều điều trị nên lựa chọn là liều có hiệu quả cao nhất với tác dụng phụ ít nhất. Các bệnh nhân có nguy cơ cao hay những người có kèm theo tăng huyết áp, rối loạn lipid máu hoặc bệnh tim mạch (bệnh động mạch vành, đột quỵ hay bệnh mạch máu ngoại biên) nên được điều trị bằng aspirin 75-100 mg/ngày. Nếu bệnh nhân bị dị ứng với aspirin, các thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu khác như clopidogrel 75mg/ngày có thể được dùng thay thế ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.
Điều trị rối loạn lipid máu: Những người trên 45 tuổi cần được kiểm tra lipid máu định kỳ, bao gồm cholesterol toàn phần, LDL-C, triglycerid và HDL-C sau khi nhịn đói 10-12 giờ. Nên kiểm tra định kỳ lượng lipid máu 6-12 tháng/lần. Mục tiêu điều trị rối loạn lipid máu là LDL-C dưới 2,6 mmol/l (100mg/dl), triglycerid dưới 2,3 mmol/l (200 mg/dl) và HDL-C bằng hoặc trên 1,0mmol/l (40mg/dl). Tuy nhiên, cần cân nhắc giữa lợi ích và giá thành, cũng như các tác dụng phụ có thể gặp khi dùng thuốc liều cao. Điều trị bằng thuốc phải kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống. Liều thuốc được tăng dần đến khi đạt được nồng độ LDL-C mục tiêu.
Kiểm soát trị số huyết áp: Tăng huyết áp rất hay gặp ở người có tuổi. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bị các biến chứng tim mạch (đột quỵ, bệnh động mạch vành và mạch máu ngoại biên). Mục tiêu điều trị nhằm đạt trị số huyết áp dưới 140/90mmHg. Thay đổi lối sống và dùng thuốc được áp dụng cho các bệnh nhân có huyết áp trên 140/90mmHg. Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc quan trọng nhất trong điều trị tăng huyết áp là đạt được trị số huyết áp mục tiêu. Nguyên tắc sử dụng thuốc hạ áp là nên bắt đầu với một thuốc liều thấp hoặc phối hợp các nhóm thuốc với liều thấp để vừa đạt được hiệu quả điều trị vừa làm giảm tác dụng phụ.
Lưu ý: Trong mùa hè, thời tiết nắng nóng sẽ là yếu tố làm gia tăng các ca TBMMN, vì vậy những bệnh nhân đã từng bị TBMMN và những người có nguy cơ phải đặc biệt chú ý đến các biện pháp phòng bệnh, tránh hoạt động quá sức và có chế độ ăn uống, lao động, nghỉ ngơi... phù hợp với sức khỏe.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons