This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015
Thay đổi dòng chảy cứu người phình động mạch não
Bệnh nhân 62 tuổi ngụ Biên Hòa, Đồng Nai, nhập viện trong tình trạng nhức đầu dữ dội và huyết áp cao. Kết quả thăm khám và hình ảnh chụp cắt lớp cho thấy bệnh nhân có túi phình lớn động mạch cảnh trong trái ở não.
Các bác sĩ đã giúp bệnh nhân đặt một stent thay đổi dòng chảy ngang qua túi phình, qua đó túi phình dần dần co nhỏ và tắc. Thủ thuật thực hiện trên máy DSA hiện đại với những chức năng giúp bác sĩ dễ dàng đặt stent đúng vị trí như mong muốn. Sau can thiệp, bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo, sinh hiệu ổn, dự kiến sẽ xuất viện vào cuối tuần này và tiếp tục theo dõi, tái khám định kỳ.
Đây là ca thứ ba mà bệnh viện thực hiện thành công theo phương pháp này. Phình động mạch cảnh là bệnh lý bẩm sinh có sẵn từ trước, tỷ lệ gặp không cao, tùy thuộc vùng thương tổn. Nếu phát hiện và xử trí kịp thời sẽ cứu sống người bệnh.Trước đây, gặp những trường hợp này, các bác sĩ điều trị bằng những phương pháp cũ như thắt lại động mạch bị phình, thả vòng xoắn kim loại làm đầy túi phình hoặc phẫu thuật cắt túi phình để điều trị cho bệnh nhân. Tuy nhiên bệnh nhân có tỷ lệ tái phát cao.
Phương pháp đặt một stent ngang qua cổ làm thay đổi dòng chảy, hạn chế dòng chảy qua túi phình là một đột phá trong điều trị đối với các túi phình có kích thước lớn, phình dạng hình thoi mà trước đây các phương pháp can thiệp khác vẫn còn nhiều hạn chế. Điều này góp phần điều trị triệt để các tổn thương phức tạp, cứu sống người bệnh thoát khỏi tử vong trong gang tấc và những hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra. Chi phí thấp hơn so với các phương pháp truyền thống.
Theo Lê Phương - VnExpress
Bệnh động kinh và con đường đi tìm lời giải
Bệnh động kinh đã được biết đến từ rất lâu, bệnh không chỉ nguy hiểm bởi những ảnh hưởng trên thể chất người bệnh mà còn do những tác động tâm lý mà nó mang lại.
Người bệnh động kinh có những thế kỷ phải sống trong sợ hãi, xa lánh, kì thị của người xung quanh, điều này đôi khi làm hủy hoại cuộc sống của cả bản thân người bệnh và cả gia đình.
Nguyên nhân nào gây bệnh động kinh?
Ngày nay, dưới ánh sáng của khoa học, bệnh Động kinh đã được nhìn nhận lại dưới quan điểm đúng đắn hơn và việc điều trị bệnh cũng đã có những bước tiến khả quan, thậm chí nhiều người bệnh có thể hoàn toàn trở lại cuộc sống bình thường.
Bệnh động kinh có phổ biến không?
Trên thế giới trung bình cứ 1.000 dân thì có 7 người mắc bệnh động kinh.Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), ở những nước đang phát triển như ở Việt Nam - con số này có thể gấp đôi.
Ở nước ta hiện nay có khoảng 800.000 người bệnh động kinh đang được quản lý và điều trị. Con số thực tế có thể còn cao hơn rất nhiều do khả năng nhận thức bệnh còn thấp và việc tuân thủ điều trị chưa tốt.
Hiện nay, các trường hợp động kinh vẫn chủ yếu là không rõ nguyên nhân (Động kinh vô căn) - chiếm tới 6/10 trường hợp. Các trường hợp tìm được nguyên nhân (Động kinh thứ phát) nguyên nhân thường có liên quan đến các tổn thương não như: tai biến mạch máu não, chấn thương sọ não, viêm màng não, áp xe não, u não, rối loạn chuyển hóa, nhiễm độc…
Việc chẩn đoán động kinh thông thường sẽ dựa trên triệu chứng lâm sàng điển hình: cơn động kinh, rối loạn vận động, cảm giác… Bên cạnh đó, một số bằng chứng cận lâm sàng như điện não đồ, cộng hưởng từ… cũng rất có ý nghĩa trong việc chẩn đoán bệnh. Việc khai thác căn nguyên gây bệnh có thể là yếu tố phối hợp để điều trị đạt hiệu quả tốt hơn.
Bệnh động kinh có chữa khỏi được không?
Theo những ghi nhận các ca bệnh trên toàn thế giới cho thấy việc điều trị động kinh có những dấu hiệu rất tích cực: có đến 70% bệnh nhân có thể cắt cơn được hoàn toàn, ở cả bệnh nhi và người lớn. Sau từ 2 đến 5 năm điều trị thành công, có thể dừng thuốc được ở 70% trẻ em và 60% người lớn mà không có nguy cơ tái phát lại.
Liệu pháp điều trị chính hiện nay vẫn là dùng các thuốc kháng động kinh. Tuy nhiên bên cạnh hiệu quả điều trị thì thuốc điều trị bệnh động kinh vẫn gây ra những mối lo ngại về tác dụng không mong muốn, đặc biệt khi phải dùng trong thời gian dài. Vì vậy, bên cạnh việc điều trị các thuốc hóa dược, việc ứng dụng y học cổ truyền vào chữa trị động kinh cũng đang là một hướng đi rất được quan tâm.
Hai trong số những vị thuốc đầu bảng trong trị động kinh là An tức hương và Câu Đằng. Với kinh nghiệm sử dụng lâu đời, cũng như những kết quả đáng mừng từ những nghiên cứu hiện đại, việc sử dụng và phối hợp hai vị thuốc này để tăng cường hiệu quả trị động kinh đang là hướng đi đầy triển vọng.
Lời khuyên hữu ích cho người bệnh động kinh
Bệnh động kinh (epilepsy) hay còn gọi là rối loạn co giật, là một bệnh tâm thần, gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh.
Một người được cho là mắc bệnh động kinh khi bị từ hai cơn co giật không rõ nguyên nhân trở lên.
Lưu ý, những người thường xuyên lên cơn co giật mà không có dấu hiệu cảnh báo cần tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn và phương pháp phòng ngừa hơn so với những người có dấu hiệu cảnh báo trước khi cơn động kinh xảy ra.
Dưới đây là một vài lời khuyên hữu ích và bảo đảm an toàn cho bệnh nhân động kinh:
- Thiết kế nhà không có cầu thang, nhằm tránh tình trạng bị tai nạn do té ngã dẫn đến chấn thương khi cơn động kinh xảy ra đột ngột.
- Sử dụng các dụng cụ điện gia dụng có chức năng tắt tự động.
- Gắn những miếng đệm vào các góc bàn hoặc các đồ nội thất có góc cạnh.
- Các thành viên trong gia đình không nên để người bị động kinh (không thể kiểm soát) ở trong phòng một mình, đặc biệt là trong nhà bếp khi đang đun nấu.
- Sử dụng các dụng cụ và thùng chứa bằng nhựa.
- Đun nấu bằng lò vi sóng thay vì bếp lò.
- Sử dụng thực phẩm như thịt, cá… đã được cắt sẵn để khỏi cần sử dụng đến dao.
- Người bệnh động kinh không nên khóa trái phòng tắm khi đang ở trong đó, để mọi người có thể vào giúp đỡ trong trường hợp cơn động kinh bất ngờxảy ra.
- Cần để các loại dụng cụ điện gia dụng như bàn ủi, máy sấy… xa chậu rửa hoặc bồn tắm.
- Luôn giữ nhiệt độ máy nước nóng ở mức thấp để ngừa nguy cơ bị bỏng.
- Lên kế hoạch cho các hoạt động vào khoảng thời gian khi cơn động kinh ít xảy ra nhất (nếu các cơn động kinh thường xảy ra vào một thời điểm nhất định).
- Khi tập thể dục, cần uống nhiều nước và tránh những nơi có nhiệt độ cao để giảm nguy cơ lên cơn động kinh.
- Cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi thực hiện các chương trình luyện tập mới.
Theo N.N - Phụ nữ TPHCM
Trầm cảm làm gia tăng nguy cơ mắc Parkinson
Theo một nghiên cứu mới, những người bị trầm cảm sẽ gia tăng nguy cơ phát triển bệnh rối loạn vận động Parkinson sau này.
Để có được kết quả trên, GS Peter Nordstrom - một trong các tác giả nghiên cứu, thuộc ĐH Umeå (Thụy Điển) cùng các cộng sự đã tập hợp số liệu của tất cả các công dân Thụy Điển có tuổi từ 50 tuổi trở lên tính đến ngày 31/12/2005. Sau khi phân loại, họ đã lấy dữ liệu của 140.688 người được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm từ năm 1987 đến 2012.
Những người tham gia sau đó đã được theo dõi trong khoảng thời gian 26 năm. Tổng cộng có 1.485 người bị trầm cảm (1,1%) đã phát triển bệnh Parkinsontrong thời gian này so với 1.775 trường hợp không bị trầm cảm (0,4%).
Tính trung bình, bệnh Parkinson đã được chẩn đoán sau 4,5 năm khi nghiên cứu được bắt đầu. Các tác giả tính toán, những bệnh nhân trầm cảm có nguy cơ mắc bệnh Parkinson gấp 3,2 lần so với những người không có bệnh trầm cảm trong năm đầu tiên nghiên cứu. Tiếp theo đó, sau 15 - 25 năm, họ phát hiện, gần 50% bệnh nhân trầm cảm có nguy cơ phát triển bệnh.
Đặc biệt, nếu người tham gia bị trầm cảm nghiêm trọng, khả năng phát triển bệnh Parkinson cũng cao hơn. Ví dụ, những người đã nhập viện cho bệnh trầm cảm bằng hoặc nhiều hơn 5 lần đã gia tăng 40% khả năng phát triển bệnh Parkinson so với những người nhập viện vì trầm cảm chỉ có một lần.
GS Nordstrom đặt ra giả thiết giải thích cho những phát hiện của họ. Chẳng hạn như "trầm cảm có thể là một triệu chứng sớm của bệnh Parkinson" hoặc "môi trường chính là yếu tố chung tạo ra mối liên kết giưa bệnh trầm cảm và Parkinson".
Các tác giả cũng thừa nhận, nghiên cứu này chỉ mang tính quan sát, họ không thể đánh giá vai trò tiềm năng của các chất được sử dụng trong điều trị chống trầm cảm cũng như các yếu tố nguy cơ đối với bệnh Parkinson.
Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Neurology.
Bệnh Parkinson là một rối loạn của hệ thần kinh ảnh hưởng đến khả năng di chuyển, kỹ năng nói và viết. Parkinson cũng có thể gây ra các vấn đề về nhận thức và cảm nhận khó khăn về thế giới xung quanh cho người bệnh.
Theo M.Hiếu - Health+
Liệt dây thần kinh số 7 phải làm sao?
Liệt mặt chính là liệt dây thần kinh số 7. Bệnh có đặc điểm là phục hồi nhanh, song dễ để lại di chứng về vận động, thẩm mỹ nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm.
Liệt dây thần kinh số 7 do đâu?
Liệt dây thần kinh số 7 phải làm sao?
Dây thần kinh số 7 là dây hỗn hợp, có đầy đủ chức năng của một dây thần kinh ngoại vi (vận động, cảm giác, thực vật, dinh dưỡng và phản xạ).Dây thần kinh ngoại biên số 7 nằm từ rãnh hành cầu đi ra ngoài và chia thành 3 đoạn trong sọ, xương đá (từ lỗ tai trong đến lỗ tai chum) và ngoài xương đá với 2 nhánh ở thái dương và ở cổ.
Liệt dây thần kinh ngoại biên số 7 là do hiện tượng mất hoặc giảm vận động nửa mặt của những cơ bản da ở mặt do dây thần kinh 7 chi phối. Mặt người bệnh bị kéo lệch gây méo mồm, mắt không nhắm được.
Liệt mặt do tổn thương dây thần kinh số 7 là một bệnh rất phổ biến, gặp ở mọi lứa tuổi, do nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng thường gặp nhất là do lạnh.Bệnh xuất hiện ở cả hai giới, mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu ở tuổi trên 30.
Khi bị liệt dây thần kinh số 7 phải làm sao?
Khả năng phục hồi của dây thần kinh số 7 phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nguyên nhân gây ra tổn thương, vị trí tổn thương, mức độ thương tổn, thời gian bị tổn thương,…Phát hiện sớm và điều trị sớm đóng vai trò quan trọng cho kết quả điều trị.
Các phương pháp điều trị bao gồm nội khoa, châm cứu… thường đáp ứng với những trường hợp tổn thương dây thần kinh số 7 thể nhẹ, chủ yếu do phù nề, chèn ép... Còn với những tổn thương thực thể như đứt, dập nát, thường khả năng phục hồi kém, lúc này vấn đề điều trị ngoại khoa được đặt ra để giải quyết nguyên nhân hoặc khắc phục các tổn thương.
Theo Phương Vũ - Gia đình Việt Nam
Hay bị chóng mặt và rung giật mắt là bệnh gì?
Cháu 18 tuổi, đã 2 năm nay cháu có tình trạng chóng mặt nhẹ (mất thăng bằng) với tần suất khoảng 3-6 tháng/lần. Trước đây chỉ 1-2 ngày là hết nhưng gần 1 năm nay, khi cháu tái phát tình trạng này thì kéo dài đến hàng tháng. Bây giờ cháu đang trong thời gian ôn thi đại học mà lại bị tái phát ảnh hưởng đến học tâp nên cháu rất lo lắng. Ngoài chóng mặt cháu còn thấy bị rung giật ở mắt. Xin bác sĩ tư vấn cho cháu ạ.
Bảo Bình (Hà Nội)
Trả lời:
Chóng mặt có rất nhiều nguyên nhân: do thiếu máu, do thiểu năng tuần hoàn não, do rối loạn tiền đình ốc tai, do suy nhược cơ thể. Tùy nguyên nhân mà biểu hiện lâm sàng có khác nhau. Chóng mặt do thiếu máu thường đi kèm da xanh, niêm mạc nhợt, người mệt, tim hồi hộp.
Ở tuổi vị thành niên nữ hay gặp thiếu máu do thiếu sắt. Nguyên nhân có thể do dinh dưỡng không đủ, do mắc bệnh ký sinh trùng (giun, sán...), do bệnh đường tiêu hóa như viêm ruột, dạ dày nên hấp thụ dinh dưỡng kém, do kinh nguyệt kéo dài, băng kinh gây mất nhiều máu...
Ngoài nguyên nhân thiếu máu thì chóng mặt do suy nhược thần kinh, mất ngủ kéo dài, stress... Trong đó, đặc biệt chú ý tới bệnh lý tai trong (rối loạn tiền đình) là nguyên nhân rung giật nhãn cầu và gây chóng mặt, tuy nhiên nguyên nhân sâu xa vẫn là do thiếu máu nuôi dưỡng tiền đình ốc tai mà sinh bệnh, hoặc chấn thương vùng đầu, tai trong.
Trong thư cháu nói bệnh đã 2 năm nhưng lại không thấy nói đã khám ở đâu, làm những xét nghiệm gì và đã điều trị như thế nào? Hơn nữa tình trạng bệnh của cháu lại kéo dài hàng tháng như vậy sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe và việc học tập. Vì vậy, tôi khuyên cháu nên nói tình trạng sức khỏe với gia đình để gia đình bố trí thời gian đưa cháu đi khám chuyên khoa thần kinh hoặc chuyên khoa mắt càng sớm càng tốt.
Theo BS. Nguyễn Văn Thịnh - Sức khỏe & Đời sống
Càng sinh nhiều con càng hay quên
Các nhà khoa học Đại học Bristish Columbia vừa cho biết, sự gia tăng hormon estrogen trong thời gian mang thai có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của những bộ phận quan trọng nhất trong hệ thần kinh trung ương của người phụ nữ, làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer khi về già. Trong nghiên cứu, họ đã phát hiện ra rằng, lượng estrogen trong thời kỳ mang thai có thể cao hơn gấp vài trăm lần so với mức bình thường, thay đổi tạo hình thần kinh của não bộ hay sự tái sinh của các tế bào thần kinh khu vực chịu trách nhiệm về trí nhớ và nhận biết không gian. Họ đã phân tích hai loại estrogen được sử dụng để điều trị triệu chứng của phụ nữ mãn kinh, các nhà nghiên cứu nhận thấy chúng có tác động phức tạp tùy thuộc độ tuổi cũng như việc sinh con. Estradiol - dạng mạnh nhất của estrogen, cho thấy tác dụng tăng cường sản sinh tế bào mới trong tế bào thần kinh, cũng như kéo dài tuổi thọ của tế bào thần kinh đối với những con chuột cái chưa già. Trong khi đó, đối với những con chuột cái trung tuổi, estrone - một dạng khác của estrogen, làm giảm khả năng học và ghi nhớ đối với những con chuột từng sinh sản, song lại có tác dụng tốt đối với những con chưa từng có con.
TS . Liisa Galea cho biết: Phụ nữ thường thấy trí nhớ giảm sút trong thời gian mang thai. Đặc biệt, trí nhớ ở những người từng sinh con sụt giảm nhanh hơn hẳn so với người không có con khi ở tuổi trung niên. Nhưng sau khi sinh con khoảng 2 năm, trí nhớ của họ sẽ cải thiện trở lại.
Minh Nhung (Theo Independent , 5/2015)


Thứ Hai, tháng 6 08, 2015
sống khỏe