This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015
Não sớm hồi phục nhờ giọng nói người thân
Mới đây, các nhà khoa học của Trường y khoa ĐH Northwestern (Mỹ) đã tiến hành một nghiên cứu nhỏ trên 15 bệnh nhân bị chấn thương sọ não và đang ở tình trạng sống thực vật sau đó.
Họ được chia ngẫu nhiên tham gia chương trình trị liệu hỗ trợ thêm bằng cách nghe lại những lời kể chuyện về gia đình từ chính các người thân. Việc này bắt đầu từ ngày thứ 70 sau chấn thương, nghe đều đặn bốn lần mỗi ngày trong sáu tuần.
Kết quả cho thấy bệnh nhân được nghe kể chuyện có thể hồi phục tình trạng tri giác nhanh hơn so với bệnh nhân không được nghe chuyện. So với trước đó, họ đã có thể mở mắt khi nghe lay gọi và có chú ý với môi trường xung quanh.
Theo BS Huỳnh Khiêm Huy - Tuổi trẻ
Nhức nửa đầu: Nỗi khổ không chừa ai
Bệnh nhức nửa đầu tương đối phổ biến, chiếm 10% dân số, nữ thường khổ sở vì bị nhiều hơn nam, đặc biệt thường gặp ở phụ nữ trẻ dưới 45 tuổi.
Bệnh nhức nửa đầu còn gọi là bệnh migraine do xuất phát từ chữ hemicranias (hemi có nghĩa là một nửa và cranie là sọ đầu). Chữ hemicranias sau một thời gian dài chuyển dạng và được đọc trại là migraine.
Đây là bệnh tương đối phổ biến, chiếm 10% dân số, nữ thường khổ sở vì bị nhiều hơn nam, đặc biệt thường gặp ở phụ nữ trẻ dưới 45 tuổi.
Người bệnh nhức đầu với cơn đau thường khu trú nửa bên đầu, đau theo nhịp mạch đập (đau giật giật), có thể kèm theo nôn, buồn nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng động, trước khi đau có thể có một số triệu chứng báo trước: rối loạn thị giác, rối loạn ngôn ngữ.
Tuy nhiên, có khi bệnh có các biểu hiện phức tạp đòi hỏi phải có sự chẩn đoán phân biệt với các loại bệnh nhức đầu khác bởi bác sĩ chuyên khoa.
Nguyên nhân chưa rõ ràng
Nguyên nhân của bệnh nhức nửa đầu chưa được giải thích rõ ràng mà chỉ có một số giả thuyết cố gắng làm rõ một phần cơ chế bệnh sinh. Cơn đau xuất hiện có thể do sự tham gia của nhiều yếu tố như: do mạch máu ở đầu (đau do trước co mạch sau đó lại dãn mạch), do một số chất dẫn truyền thần kinh như serotonin, do sự tích tụ bất thường canxi bên trong tế bào thần kinh…
Người ta còn ghi nhận, ở phụ nữ cơn đau nửa đầu nhiều khi liên quan đến thời điểm trước khi hành kinh. Bệnh không đưa đến tử vong nhưng làm cho người bệnh khổ sở vì các cơn đau đầu tái diễn làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
Cần có chỉ định thuốc
Về thuốc, người ta chia ra làm 2 loại: loại thuốc điều trị cắt cơn migraine và loại thuốc phòng ngừa cơn.
Loại thuốc điều trị cắt cơn migraine: đây là loại thuốc được dùng khi cơn đau xảy ra, lại được phân làm 2 loại.
Loại thuốc không chuyên biệt (non-specific) là thuốc chỉ trị triệu chứng làm giảm đau trong trường hợp đau nhẹ, gồm có thuốc giảm đau (aspirin, paracetamol) hoặc thuốc kháng viêm không steroid (NSAID: naproxen, diclofenac, ibuprofen…).
Người ta còn dùng thuốc giảm đau phối hợp với metoclopramid (Primperan) để giúp thuốc giảm đau dễ hấp thu hơn và nhất là làm giảm triệu chứng nôn thường kèm theo chứng nhức nửa đầu.
Loại chuyên biệt (specific) là thuốc tác động trực tiếp đến quá trình bệnh lý đưa đến chứng nhức nửa đầu, gồm có dihydroegotamine (một dẫn chất lấy từ nấm cựa gà) và một nhóm thuốc mới gọi là triptan (gồm có sumatriptan, rizatriptan, zomitriptan, frovatriptan…) là thuốc tác động chọn lọc trên thụ thể 5-HT1 của chất sinh học serotonin và khá hiệu quả trong điều trị migraine nặng.
Thuốc nhóm triptan có thể dùng dạng viên uống hoặc dạng tiêm (khi bệnh nhân có biểu hiện nôn nhiều) và cần dùng ở giai đoạn sớm mới có tác dụng tốt.
Ở ta hiện nay, thuốc điều trị cắt cơn migraine hay được dùng là dihydroergotamine kết hợp với metoclopramide. Trong điều trị cắt cơn, sau khi dùng liều khởi đầu có thể dùng liều lặp lại sau 30 phút đến 1,2 giờ (tùy theo biệt dược).
Cần lưu ý đến các tác dụng phụ có hại của thuốc: gây viêm loét dạ dày tá tràng đối với aspirin và các NSAID, ảnh hưởng đến mạch máu của dihydroergotamine, mệt mỏi, chóng mặt, có cảm giác ép chặt ngực đối với sumatriptan.
Loại thuốc phòng ngừa cơn đau migraine: đây là thuốc giúp cho việc tránh các cơn đau tái phát (nếu chỉ điều trị cắt cơn không thôi, các cơn đau sẽ tái diễn như cũ).
Thuốc dùng phòng ngừa gồm nhiều loại: propranolol (thuốc ức chế beta thường được dùng trị cao huyết áp), flunarinine (thuốc ức chế canxi, ngăn chặn sự tích tụ ion canxi trong tế bào thần kinh), amitriptyline (thuốc chống trầm cảm loại 3 vòng), pizotifen (thuốc kháng serotonin)…
Ta thấy có nhiều loại thuốc được dùng để phòng ngừa cơn và việc lựa chọn thuốc thích hợp chỉ có thể dựa vào kiến thức chuyên môn của bác sĩ điều trị. Bác sĩ sẽ lựa chọn thuốc này tùy theo thể trạng, sự dung nạp thuốc của người bệnh vào hiệu quả của thuốc (làm giảm số lần cơn đau, cường độ đau) và tác dụng phụ có hại của thuốc.
Thí dụ như người bệnh bị hen suyễn thì không được dùng propranolol. Các thuốc dùng để phòng ngừa cơn đều có tác dụng phụ từ nhẹ như gây buồn ngủ, làm tăng trọng (pizotifen) đến gây hội chứng thần kinh ngoại tháp (flunarizine).
Thuốc men thôi chưa đủ
Phần trình bày về thuốc ở trên cho thấy việc dùng thuốc trong điều trị và phòng ngừa bệnh nhức nửa đầu là phức tạp. Đối với người thường xuyên bị nhức đầu và nghi bị bệnh nhức nửa đầu, tốt nhất nên đến khám ở bác sĩ.
Bác sĩ sẽ chẩn đoán xác định bệnh và chỉ định thuốc đúng đắn. Bác sĩ sẽ chọn thuốc tốt nhất điều trị cắt cơn phối hợp với thuốc phòng ngừa cơn. Rất cần có sự hợp tác tốt giữa người bệnh và thầy thuốc bởi vì việc dùng thuốc cần phải đủ liều, đủ thời gian.
Thời gian điều trị cắt cơn ít nhất là 2 - 3 tháng kể cả khi không còn cơn đau.Thuốc phòng ngừa cơn thường chỉ cho hiệu quả sau khi dùng vài tháng và phải theo đúng chỉ dẫn về thời điểm dùng thuốc, cách giảm liều dần dần như thế nào.
Khi điều trị bệnh nhức nửa đầu, ngoại việc dùng thuốc nên lưu ý tránh các yếu tố khởi phát hoặc làm tăng cơn đau, như: tránh dùng rượu bia, chocolate, bột ngọt (mì chính), sự căng thẳng thần kinh-tâm lý (stress), phụ nữ thì tránh dùng thuốc ngừa thai có chứa estrogen.
Người bệnh cần có chế độ giấc ngủ phù hợp, tránh thức khuya hoặc rối loạn giấc ngủ. Chế độ lao động và sinh hoạt tránh căng thẳng kết hợp với luyện tập thư giãn.
Nhiều khi phải cải thiện điều kiện môi trường như nơi ở phải có ánh sáng phù hợp và tránh nhiều tiếng động. Người bệnh cần thông tin biết về tình trạng bệnh, cách dùng thuốc và cách theo dõi tiến triển của bệnh.
PGS.TS Nguyễn Hữu Đức - Sức khỏe và Đời sống
Thận trọng với thuốc làm tăng nguy cơ trầm cảm
Nhìn chung, ngoài tác dụng chữa bệnh, các thuốc tân dược đều có những tác dụng phụ không mong muốn. Trong đó, một số thuốc có tác dụng phụ làm tăng nguy cơ trầm cảm.
Nhìn chung, ngoài tác dụng chữa bệnh, các thuốc tân dược đều có những tác dụng phụ không mong muốn. Trong đó, một số thuốc có tác dụng phụ làm tăng nguy cơ trầm cảm cho người dùng, đặc biệt đối với những người đang mắc bệnh trầm cảm cần hết sức lưu ý.
Thuốc chẹn beta dùng trong tim mạch
Nhóm thuốc chẹn beta (atenolol, metoprolol, propranolol, carvediol, satolol) dùng chữa tăng huyết áp, đau thắt ngực, điều hòa nhịp tim.
Chúng có khả năng làm tăng trầm cảm do nhóm thuốc này chặn sự hoạt động của beta adrenergic nên ức chế sự hoạt động của norepinephrin - một chất dẫn truyền thần kinh. Cách khắc phục: thay các thuốc chẹn beta adrenergic bằng các thuốc khác.
Nhóm thuốc corticoid
Nhóm thuốc này có tác dụng kháng viêm, chống dị ứng và ức chế miễn dịch nên được dùng chữa trị nhiều bệnh như các bệnh về xương khớp, các bệnh tự miễn (như luput ban đỏ hệ thống).
Corticoid làm giảm lượng serotonin (một chất dẫn truyền thần kinh), do đó, làm tăng trầm cảm (gồm các triệu chứng đơn lẻ hay kết hợp), biểu hiện ở người lớn với các triệu chứng thay đổi tính tình, lo lắng, sợ hãi, kích thích, cáu bẳn, hưng phấn hay lãnh đạm, thờ ơ, mất ngủ, li bì.
Ở trẻ em hay có các rối loạn hành vi như nói lắp, quấy khóc. Dùng ngắn ngày có xu hướng bị hưng cảm; dùng dài ngày có xu hướng bị trầm cảm. Có 20 - 63% người lớn dùng corticoid kéo dài bị rối loạn này, trong đó, 6% ở mức nặng. Rối loạn nhận thức gồm thiếu hụt về trí nhớ, ngôn ngữ, lời nói.
Giải pháp khắc phục: Có thể thay thế bằng nhóm kháng viêm không steroid như aspirin, diclofenac, bằng thuốc chống dị ứng hay bằng các thuốc ức chế miễn dịch khác.
Nhóm an thần benzodiazepin
Nhóm thuốc này có tác dụng an thần, gây ngủ, thư giãn cơ bao gồm: diazepam (seduxen), alprazolam (xanax), lorazepam (ativan), temazepam, triazolam. Chúng làm tăng trầm cảm vì khi vào gan, chúng không được chuyển hóa hoàn toàn.
Riêng người lớn tuổi, do sức khỏe sút kém dẫn đến thiếu một enzym chuyển hóa, kết quả là tích tụ lại gây độc.
Mặt khác, trong cơ thể có hệ GABA- glutamic ở thế cân bằng động, trong đó glutamic làm tăng các hoạt động kích thích, GABA làm tăng các hoạt động ức chế. Benzodiazepin làm tăng hoạt động ức chế của GABA gây nên hiện tượng ức chế giống như trầm cảm.
Cách khắc phục: Nếu người trầm cảm bị kích thích khó ngủ, nên dùng các thuốc trầm cảm thuộc nhóm trầm cảm 3 vòng (TCA) có tính an thần như amitriptylin.
Khi cần thiết, có thể phối hợp thuốc trầm cảm TCA với benzodiazepin như diazepam nhưng với liều thấp, trong thời gian ngắn, lúc mới dùng TCA. Bình thường, với các trường hợp khác, chỉ dùng benzodiazepin liều vừa đủ, không dùng quá 10 ngày.
Nhóm thuốc kích thích thần kinh
Nhóm này thường có methylphenidat (ritalin), modafinil (provigil) dùng điều trị chứng buồn ngủ quá mức ban ngày, buồn ngủ triền miên, ngủ rũ, chứng ngưng thở khi ngủ, chứng giảm tập trung tăng động (ADHD).
Thuốc làm tăng trầm cảm do làm tăng hoạt động của hệ dopaminergic gây ra dạng trầm cảm có tính loạn thần (nay còn gọi là tâm thần phân liệt) với các triệu chứng âm tính giống như triệu chứng trầm cảm.
Cách khắc phục: Trong trường hợp bị trầm cảm, giảm sút năng lượng tâm thần do sự suy giảm các chất dẫn truyền thần kinh trong synap xuống dưới ngưỡng sinh lý bình thì phải dùng loại thuốc làm phục hồi lại các chất này đến ngưỡng sinh lý như thuốc trầm cảm 3 vòng (TCA), thuốc ức chế thu hồi chọn lọc serotonin (SSRI) hay thuốc ức chế monoaminooxydase (MAOI) mà không được dùng các thuốc kích thích thần kinh.
Nhóm thuốc statin chữa rối loạn lipid máu
Cholesterol là nguyên liệu tổng hợp nên các chất có cấu trúc sterol trong đó có các chất dẫn truyền thần kinh. Statin ức chế sự tổng hợp cholesterol chống rối loạn lipid máu cũng đồng thời làm giảm nguyên liệu tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh. Khi thiếu hụt chất dẫn truyền thần kinh thì gây ra trầm cảm.
Cách khắc phục: Để điều trị rối loạn lipid máu, cần dùng chế độ ăn thích hợp, dùng các thuốc khác kết hợp với statin để không phải dùng statin đơn liều cao. Chỉ dùng statin trong khung liều khuyến cáo (cho từng thuốc trong nhóm). Sự tổng hợp cholesterol xảy ra tại gan vào ban đêm, nên uống vào bữa tối cho hiệu quả cao hơn.
Người bình thường, khỏe mạnh khi dùng các nhóm thuốc trên liều cao hoặc kéo dài thì có thể bị trạng thái trầm cảm, song khi giảm liều hoặc ngừng thuốc thì trạng thái trầm cảm ấy sẽ mất dần đi, không gây ra bệnh trầm cảm.
Người có sẵn các nguy cơ bị trầm cảm nếu dùng các thuốc này liều cao hoặc kéo dài thì chúng sẽ làm tăng thêm nguy cơ dễ xuất hiện bùng phát trầm cảm. Ví dụ: Bị bệnh tự miễn, kéo dài làm suy nhược lo âu chán nản, có sẵn nguy cơ trầm cảm, nếu lại dùng corticoid liều cao hoặc kéo dài sẽ dễ xuất hiện, bùng phát trầm cảm.
Người đã bị bệnh trầm cảm thì không được dùng các nhóm thuốc này vì các thuốc làm mất tác dụng của thuốc trầm cảm đang dùng, gây nên trạng thái trầm cảm làm cho bệnh nặng thêm.
Theo DS Hà Thủy Phước - Sức khỏe và Đời sống
Thứ Ba, 20 tháng 1, 2015
Đau đầu - triệu chứng của nhiều nguyên nhân
Đau đầu có thể do tăng áp lực nội sọ (u não, viêm màng não, co thắt mạch máu não) hay nguyên nhân tại chỗ (viêm xoang, răng hàm mặt, mắt...).
Đau đầu hay còn gọi nhức đầu là một triệu chứng của nhiều nguyên nhân khác nhau.
Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân nhiễm khuẩn hoặc ngộ độc. Ngày nay, cuộc sống luôn tất bật, công việc căng thẳng, xung đột gia đình… cũng gây nên đau đầu, do stress.
Triệu chứng
Dấu hiệu đau đầu, có nhiều mức độ đau đầu từ nhẹ đến nặng. Đau một bên hay đau cả đầu hoặc đau theo từng vùng khu trú như vùng gáy (vùng chẩm, vùng trước trán hoặc vùng thái dương, đau ở ngay phía trên hai mắt, hai tai, đau ở vùng trên của cổ...).
Ví dụ như: đau đầu do căng thẳng sẽ còn kèm theo các biểu hiện như khó ngủ, đau đầu tăng lên khi có ánh sáng chiếu vào mặt hay có tiếng động ồn ào. Nếu đau đầu do viêm màng não, máu tụ trong não cấp tính thì có thể kèm theo bất thường về nhiệt độ cơ thể, mạch đập…
Để biết cụ thể nguyên nhân gây đau đầu cần được bác sĩ thăm khám trực tiếp, từ đó sẽ có biện pháp điều trị thích hợp. Bên cạnh đó, cũng cần có chế độ làm việc, nghỉ ngơi, thư giãn hợp lý, tránh nơi ồn ào vì có thể làm đau đầu nặng hơn.
Stress là nguyên nhân thường gặp gây đau đầu
Có khi đau đầu lại có dấu hiệu báo trước. Khoảng 40 - 60% số bệnh nhân có các triệu chứng báo trước, có thể là ngủ gà ngủ gật hay ngáp, mệt mỏi ức chế, hoặc ngược lại trạng thái thần kinh bị kích thích phấn chấn quá mức, thèm đồ ngọt hay đồ mặn. Thường thì bệnh nhân và thân nhân của họ cũng ghi nhận được các triệu chứng này và đoán trước được cơn đau sẽ xảy ra.
Khoảng 20% bệnh nhân lại có những cơn tiền triệu thoáng qua, để khởi đầu cho cơn đau đầu liền sau đó, đôi khi các triệu chứng này lại xảy ra trong khi bệnh nhân đang đau đầu. Thường gặp là chói mắt, hoa mắt, đom đóm mắt, có những khoảng đen che mắt (được gọi là điểm mù). Một số bệnh nhân lớn tuổi có thể không đau đầu mà chỉ có những triệu chứng như trên.
Các loại đau đầu thường gặp
Thông thường đau đầu được chia ra làm hai loại: đau đầu nguyên phát là đau nhưng không kèm các triệu chứng quan trọng của một chứng bệnh gì liên quan; đau đầu thứ phát: đau đầu là triệu chứng của một bệnh nào đó, đau do một bệnh cụ thể gây ra.
Đau đầu nguyên phát bao gồm:
Đau đầu do căng thẳng: loại thường gặp nhất, khoảng 90% số người trưởng thành có loại nhức đầu này, nhất là ở phụ nữ.
Cơn đau nửa đầu migraine: thường gặp thứ hai sau đau đầu do căng thẳng. Khoảng 28 triệu người Mỹ (tức khoảng 12% dân số) đã từng trải qua những cơn đau đầu như thế này, ở cả hai đối tượng là người lớn lẫn trẻ em. Trước tuổi dậy thì, tỉ lệ nam và nữ bị chứng đau đầu này như nhau, nhưng qua giai đoạn này thì ưu thế nghiêng về nữ nhiều hơn (ở nam giới là 6%, nữ giới 18%).
Chứng đau nửa đầu nguyên nhân thường liên quan tới sự giãn của các mạch máu trong sọ và các hóa chất trung gian được tiết ra từ các sợi thần kinh nằm quanh đó. Người ta thấy rằng khi cơn đau xuất hiện, động mạch thái dương thường giãn rộng (động mạch thái dương là một nhánh động mạch nằm ngoài hộp sọ, ngay bên dưới da vùng thái dương). Khi động mạch này giãn nở, nó làm căng các sợi thần kinh nằm gần đó, các sợi thần kinh khi bị căng thì tiết ra các hóa chất có khả năng gây đau, viêm, và làm mạch máu thêm dãn nở, càng làm cơn đau nặng thêm.
Chứng đau nửa đầu này thường không được chẩn đoán, hay chẩn đoán nhầm với đau đầu do căng thẳng, đau đầu do viêm xoang, thế nên khá nhiều người bị đau đầu kiểu này nên không được điều trị thích đáng.
Đau đầu từng đợt (đau đầu histamine, đau đầu Horton): một chứng đau đầu nguyên phát ít gặp nhất, chiếm khoảng 0,1% dân số. Bệnh nhân chủ yếu là nam giới (chiếm 85%). Tuổi trung bình bị bệnh 28 - 30 tuổi, bất kể bệnh có thể xuất hiện từ khi tuổi còn nhỏ.
Đau đầu thứ phát:
Loại này bao gồm như viêm xoang, cao huyết áp cũng là nguyên nhân gây đau đầu thứ phát. Có rất nhiều nguyên nhân, từ nặng như: u não, chấn thương sọ não, viêm màng não, xuất huyết dưới màng nhện, đến mức độ nhẹ hơn (và thường gặp hơn): đau đầu do ngưng uống cà phê, đau đầu do cao huyết áp, viêm xoang, viêm xoang, viêm tai, viêm nướu răng.
Ngoài ra còn có các nguyên nhân: giảm hoạt động của tuyến giáp vì tuyến giáp không sản xuất đủ hoóc-môn giáp như bình thường; ngộ độc carbon monoxide (CO) thường xuyên. Bệnh Parkinson; do thuốc như: indomethacin, estrogen, progestin, thuốc ức chế kênh calcium (thường dùng điều trị tăng huyết áp), các thuốc ức chế việc tái hấp thu seretonin chọn lọc (thuốc điều trị trầm cảm).
Lạm dụng thuốc giảm đau cụ thể dùng quá liều thuốc giảm đau có thể tạo nên tình trạng "kháng thuốc", mất tác dụng của thuốc, cơn đau đầu không khống chế được nữa. Thiếu máu cơ tim (thường do bệnh lý mạch vành): thiếu máu cơ tim ngoài gây đau thắt ngực còn có thể gây đau đầu. Các nguyên nhân của đau đầu thứ phát còn có ung thư não, kể cả u nguyên phát ở não lẫn u di căn từ nơi khác đến như từ vú, từ phổi; máu tụ dưới màng cứng (màng cứng là một lớp màng bao bọc não bộ) sau khi chảy từ các tĩnh mạch não bị vỡ.
Cơn tăng huyết áp ác tính cũng gây đau đầu (những cơn tăng huyết áp nhẹ hay trung bình thường không gây đau đầu). Viêm động mạch thái dương thường xảy ra nguyên phát ở bệnh nhân cao tuổi, có thể kèm theo mệt mỏi, đau nhức người, thiếu máu. Nếu không được điều trị đặc hiệu, viêm động mạch thái dương có thể làm bệnh nhân mù hay đột quỵ. Đau đầu do tăng nhãn áp (tăng áp suất cao bất thường trong mắt)…
Khi có các cơn đa đầu bất thường, cần phải đi khám bệnh để tìm nguyên nhân, không nên chủ quan chỉ uống vài viên thuốc giảm đau rồi thôi.
Theo BS. Hoàng Xuân Đại - Sức khỏe và Đời sống
Bí quyết khắc phục chứng mất ngủ
Bạn có thường thức giấc vào lúc nửa đêm và không thể ngủ trở lại, mặc dù đã cố gắng thực hiện việc đếm tới 100 rồi 1.000… nhưng mắt vẫn cứ trơ ra?
Nếu vậy, có thể bạn đã lâm vào tình trạng mà y học gọi là rối loạn giấc ngủ.
bị rối loạn giấc ngủ, có thể bạn luôn cảm thấy uể oải và mệt mỏi, đồng thời ảnh hưởng đến các hoạt động trong ngày. Không chỉ vậy, tình trạng mất ngủ hay rối loạn giấc ngủ còn có thể có tác động xấu đến cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của bạn.
Để khắc phục vấn đề này, bạn hãy thực hiện theo một vài lời khuyên dưới đây của các chuyên gia:
1. Tạo phòng ngủ thoải mái: Hãy bảo đảm rằng nệm giường của bạn không phải là quá cứng cũng như quá mềm và gối của bạn có độ cân bằng thích hợp. Ngoài ra, để dễ đi vào giấc ngủ và ngủ ngon, bạn cần ngủ trong bầu không khí yên tĩnh, tối và tránh tiếng ồn.
2. Hạn chế cafein: Cố gắng hạn chế uống cà phê vì chất cafein sẽ kích thích bộ não của bạn, gây ảnh hưởng đến giấc ngủ. Trong trường hợp bạn là người mắc chứng mất ngủ, tránh ăn hoặc uống các loại thức uống có chứa cafein từ sau buổi trưa.
3. Duy trì giờ giấc ngủ ổn định: Để có giấc ngủ ngon, bạn cần duy trì giờ giấc ngủ ổn định thường xuyên, ngay cả vào các ngày cuối tuần. Tránh những giấc ngủ ngắn trong ngày nếu bạn không thể ngủ về đêm. Điều này sẽ giúp bạn tránh bị rối loạn giấc ngủ vào đêm hôm sau.
4. Nói không với các tiện ích: Một khi đã sẵn sàng lên giường, bạn hãy ngưng sử dụng bất kỳ các phương tiện kỹ thuật nào như tivi, laptop và ngay cả điện thoại di động. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các bước sóng xanh phát sinh từ điện thoại di động cũng như các loại màn hình khác ngăn cản đáng kể quá trình sản xuất melatonin (hoóc môn giúp bạn dễ đi vào giấc ngủ) của cơ thể.
5. Tập thiền: Thiền định được chứng minh rất có ích đối với những người thường xuyên bị mất ngủ. Phương pháp này rất hiệu quả trong việc giúp làm dịu tâm trí, giúp bạn dễ đi vào giấc ngủ. Ngoài ra, thiền còn có thể giúp gạt bỏ những vấn đề phát sinh trong ngày, giúp cân bằng trạng thái thể chất, tình cảm và tinh thần của bạn.
Theo Nguyễn Niệm - Phụ nữ TPHCM
Vì sao động kinh có thể gây đột tử?
Bệnh nhân động kinh mang một nguy cơ nhỏ bị đột tử mà không rõ lý do. Nguyên nhân chưa rõ nhưng một vài nghiên cứu cho thấy tim và hô hấp có thể liên quan.
Động kinh là một rối loạn hoạt động não khiến cho bệnh nhân dễ bị co giật. Các tế bào thần kinh trong não liên tục phát đến nhau các tín hiệu điện; một khi quá trình bình thường này bị gián đoạn, hoặc khi các tín hiệu đột nhiên cùng phát ra một lúc thì có thể gây nên co giật, dẫn đến sự thay đổi đột ngột trong ý thức, hoạt động hoặc cảm giác.
Một cơn động kinh thường kéo dài từ vài giây đến vài phút, tuy không đau đớn nhưng có thể rất khó chịu.
BS CKI ngoại thần kinh Trương Quang Huy cho biết, bệnh nhân động kinh mang một nguy cơ nhỏ bị đột tử mà không rõ lý do. Nguyên nhân chưa rõ nhưng một vài nghiên cứu cho thấy tim và hô hấp có thể liên quan. Bệnh nhân thường lên cơn động kinh toàn thể hóa kiểu co gồng - co giật, có khoảng 2-18% bệnh nhân động kinh đột tử không rõ nguyên nhân.
Theo các chuyên gia về thần kinh, đối với căn bệnh này, trạng thái tình cảm rất quan trọng, cần giữ gìn để người bệnh có tâm trạng bình ổn, tránh những thay đổi mạnh về tình cảm: vui quá, buồn quá, xúc động quá, mệt mỏi quá, lo lắng quá, kích thích quá, sợ hãi quá. Những tâm trạng trên có thể làm tăng cơn động kinh hoặc gây nên cơn co giật ngay lập tức, tuỳ từng trường hơp.
Về các trường hợp đột tử, theo BS Phan Quốc Bảo (BV đại học Y dược TP.HCM), có hai nhóm nguyên nhân chính là tai biến não bộ và tai biến tim mạch nhưng thường thấy là tai biến tim mạch xảy ra ở những người trước đó có tiền sử bệnh tim như suy tim, nhồi máu cơ tim... Không loại trừ khả năng đột tử do bệnh động kinh.
Về các trường hợp đột tử, theo BS Phan Quốc Bảo (BV đại học Y dược TP.HCM), có hai nhóm nguyên nhân chính là tai biến não bộ và tai biến tim mạch nhưng thường thấy là tai biến tim mạch xảy ra ở những người trước đó có tiền sử bệnh tim như suy tim, nhồi máu cơ tim... Không loại trừ khả năng đột tử do bệnh động kinh.
Ngoài ra còn có hội chứng “Trái tim tan vỡ” đối với những bệnh nhân chưa từng có tiền sử các bệnh về tim. Theo đó, khi gặp những tình huống nguy hiểm dẫn đến quá sợ hãi hoặc sợ hãi kéo dài sẽ làm các mạch máu bị kích thích và sinh ra những độc tố hủy hoại mô cơ tim, nhẹ thì đau nhói lồng ngực, nặng thì tử vong.
Theo An Nhiên - Infonet
Đau đỉnh đầu là triệu chứng của bệnh gì?
Đau đỉnh đầu là triệu chứng của bệnh gì là câu hỏi được nhiều người quan tâm. Cách phòng ngừa và điều trị chứng đau đỉnh đầu ra sao?
Đau đỉnh đầu là triệu chứng của rất nhiều bệnh. Đó có thể là do một số bệnh nội khoa gây nên như viêm xoang mũi, đau đầu căng cơ, dị dạng động mạch não, thiếu máu não. Những nguyên nhân khác như bất ổn tâm lý, do stress hoặc do áp lực công việc và học tập cũng gây nên triệu chứng này.
Đau đỉnh đầu là triệu chứng của bệnh gì là câu hỏi được nhiều người quan tâm..
Cách khắc phục hiện tượng đau đỉnh đầu
Trước hết, khi bị đau đỉnh đầu bạn nên thư giãn, ngừng các hoạt động, tránh áp lực công việc để cho đầu có thư thái. Nếu nơi làm việc quá ồn ào, chật chội bạn có thể nghe bản nhạc nhẹ yêu thích, đi ra ngoài…
Bên cạnh đó, bạn có thể mở rộng không gian. Làm việc trong môi trường chật chội cũng khiến nhiều người bị đau đầu. Để giảm đau đầu, bạn nên mở rộng cửa sổ nơi làm việc để cho không khí lưu thông. Làm như vậy, bạn sẽ thấy thoải mái hơn, cơn đau cũng dịu lại.
Thư giãn, tránh căng thẳng để giảm đau đỉnh đầu bằng massage cũng là cách nhanh, hiệu quả tức thì để chữa đau đỉnh đầu.
Để thực hiện massage, bạn cần chọn không gian thoáng mát, nhiều không khí, giảm cường độ ánh sáng, tạm thời quên đi những áp lực công việc tạm thời. Sau đó, bạn nên thả lỏng cơ thể, điều chỉnh nhịp thở. Trước hết, massge mắt bằng khăn mát (đắp lên mắt) khoảng 30 - 45 giây. Tiếp đó là massge vùng sọ não nhẹ nhàng, từ trên xuống dưới giúp cho cơ thể làm quen với việc massge. Sau đó massge lần lượt các vùng trán, thái dương.
Không chỉ có vậy, khi bị đau đỉnh đầu bạn có thể chườm lạnh, thư giãn trong bong tối, ngủ khoảng 15 phút để nạp năng lượng… Tuy nhiên, nếu bạn bị chứng đau đầu kéo dài nên đi khám để được chẩn đoán và chữa trị kịp thời vì đó có thể là dấu hiệu của những bệnh lý nguy hiểm.
Theo Phương Vũ - Gia đình Việt Nam


Chủ Nhật, tháng 3 01, 2015
sống khỏe