This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015
Làm sao phân biệt bệnh Thiểu năng tuần hoàn não và bệnh Rối loạn tiền đình?
Tôi có 1 thắc mắc mong bác sĩ và chương trình giải đáp. Tôi 60 tuổi được bác sĩ chẩn đoán bị Thiểu năng tuần hoàn não, còn em tôi (56 tuổi) thì xác định bị Rối loạn tiền đình. Tuy nhiên tôi thấy những biểu hiện của chúng không có gì khác nhau đều là bị hoa mắt, chóng mặt, thỉnh thoảng buồn nôn.
Xin bác sĩ phân biệt 2 bệnh này giúp tôi. Mức độ nguy hiểm của nó như thế nào? Cảm ơn!
(Trần Hoàng Chiến - Quảng Bình)
Chào bác,
Thiểu năng tuần hoàn não là bệnh do động mạch nuôi não bị tắt nghẽn, cản trở khiến việc lưu thông máu bị chậm trễ thậm chí là thiếu hụt. Thiểu năng tuần hoàn não là trạng thái nhất thời, xảy ra đột ngột do các thiếu sót về chức năng thần kinh, thường hồi phục hoàn toàn sau 24 giờ và có xu hướng lặp lại nhiều lần, thường gặp ở những người đứng tuổi, đặc biệt ở người lao động trí óc.
Một số biểu hiện thiểu năng tuần hoàn não: nhức lan tỏa khắp đầu, có cảm giác căng nặng trong đầu, nhất là mỗi khi phải suy nghĩ nhiều, đây là triệu chứng hay gặp nhất; đau sau gáy, vùng chẩm, đôi khi đau âm ỉ hoặc từng cơn lan lên nửa bên đầu; chóng mặt và rối loạn thăng bằng, cảm giác lảo đảo thoáng qua hoặc xoay tròn. Ở cấp độ mạn tính, các triệu chứng bệnh như tê mỏi chân tay, đau đầu, hoa mắt, mất ngủ, rối loạn cảm xúc, sa sút trí tuệ, … sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống và công việc.
Thiểu năng tuần hoàn não có thể diễn tiến lâu ngày và gây biến chứng cấp tính nặng nề như nhồi máu não gây nguy hiểm đến tính mạng. Điều quan trọng là tìm được các nguyên nhân gây thiểu năng tuần hoàn não để điều trị tận gốc.
Tiền đình là một hệ thống trong tai giúp giữ được thăng bằng và định hướng trong không gian. Rối loạn tiền đình xảy ra khi có sự hoạt động không được bình thường ở hệ thống tiền đình. Có 2 dạng rối loạn tiền đình:
Rối loạn tiền đình ngoại biên: Biểu hiện chóng mặt khi thay đổi tư thế, đây là dạng bệnh lành tính, chỉ làm cho người bệnh khó chịu trong sinh hoạt. Trường hợp bệnh nặng, người bệnh không thể đi đứng được, cơn chóng mặt thường kèm theo nôn ói rất nhiều và nôn kéo dài, ù tai, giảm thính lực, nặng đầu, khó tập trung…
RLTĐ trung ương: là do có sự tổn thương nhân tiền đình, tổn thương đường liên hệ của các nhân dây tiền đình ở thân não, tiểu não mà nguyên nhân có thể là do xơ mỡ động mạch mang máu đến nuôi não bộ. Đây bệnh lý thường gặp với những biểu hiện của tình trạng thiểu năng tuần hoàn não, người bệnh đi đứng khó khăn, khi thay đổi tư thế bị choáng váng, chóng mặt, thỉnh thoảng kèm theo nôn ói.
Thân mến,
DS Nguyễn Thị Ngọc Trâm
Rối loạn giấc ngủ
Khi ngủ, cơ thể trải qua nhiều thay đổi sinh lý ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, hô hấp, tim mạch, thần kinh cơ và hệ tiêu hóa.
Nhu cầu ngủ của mỗi người thay đổi, dao động từ 7-8h, phù hợp với nhịp sinh học.
Ngủ ít hơn và làm việc nhiều hơn?
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Công, chuyên khoa thần kinh (ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch và ĐH Y Dược TPHCM), thiếu ngủ ảnh hưởng tới khả năng làm việc trí óc nói riêng và tới sức khỏe nói chung. Mất ngủ kéo dài sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch. Ngược lại, ngủ quá nhiều cũng có khả năng chết sớm hơn bình thường.
Giấc ngủ là một trạng thái tự nhiên của con người, lặp lại theo chu kỳ sinh học. Khi trời tối, não tiết ra một chất gọi là melatonin, gây buồn ngủ. Khi ngủ, cơ thể giảm các hoạt động cơ bắp và giảm tiếp nhận các cảm giác. Một người trưởng thành bình thường nên ngủ đều đặn mỗi ngày bảy tiếng.
TS Công cho biết: “Về phương diện y học, giấc ngủ bình thường là ngủ đúng giờ, có đủ thời gian cho nồng độ melatonin trong máu đạt mức cao nhất, và nhiệt độ cơ thể đạt tới mức thấp nhất. Khoảng thời gian tối thiểu là sáu giờ. Tổng thời gian để ngủ bình thường rất khác nhau tùy từng người và từng lứa tuổi. Quan niệm ngủ ít hơn và làm việc nhiều hơn là sai lầm”.
Người bình thường, mỗi tối ngủ khoảng từ 6-7h là vừa đủ. Trẻ sơ sinh ngủ trên 18h mỗi ngày; dưới 12 tháng, ngủ trên 14h mỗi ngày; dưới ba tuổi ngủ trên 12h mỗi ngày; dưới năm tuổi, ngủ trên 11h mỗi ngày; dưới 12 tuổi, ngủ trên 9h mỗi ngày; thanh thiếu niên, 9-10h mỗi ngày; người trung niên và người già, ngủ bảy-tám giờ mỗi ngày. Riêng phụ nữ có thai có thể cần ngủ nhiều hơn bình thường.
80% rối loạn giấc ngủ
Mặc dù giấc ngủ cần cho hoạt động bình thường, nhưng các chuyên gia thần kinh học cho biết, hàng triệu người ở mọi lứa tuổi thường không có giấc ngủ đêm tốt, khoảng hơn 80% rối loạn thức và ngủ làm giảm chất lượng cuộc sống.
Những rối loạn thường gặp nhất là mất ngủ nguyên phát. Bệnh nhân khó đi vào giấc ngủ, hay khó duy trì giấc ngủ, hoặc cả hai trường hợp, mà không tìm được căn nguyên. Bệnh nhân sẽ được điều trị bằng thuốc an thần và một số loại thuốc ngủ khác.
Tiếp đến là chứng nghiến răng khi ngủ: nghiến răng kèn kẹt, hoặc cắn chặt hàm quá mức khi đang ngủ, không chủ ý. Những bệnh nhân mất ngủ do nghiến răng cần được điều trị bằng thư giãn thần kinh, giảm căng thẳng để tạo giấc ngủ ngon, làm dụng cụ (splint) bảo vệ răng.
Ngoài ra, các bác sĩ còn tiếp nhận không ít bệnh nhân bị chứng ngủ rũ hay chứng buồn ngủ quá mức vào ban ngày (narcolepsy). Những bệnh nhân này cần điều trị bằng một số thuốc kích thích thần kinh.
Một dạng rối loạn giấc ngủ thường gặp ở trẻ em ba-tám tuổi, hiếm khi ở người lớn, là chứng kinh hoàng ban đêm (night terror hay pavor noctunus). Trẻ đang ngủ đột ngột thức giấc, với những biểu hiện hành vi như đang khiếp sợ, có thể kêu thét, mất định hướng. Trẻ thường không nhớ những gì diễn ra trong giai đoạn này.
Nhiều người hay nói là trẻ bị ác mộng. Việc điều trị những trường hợp trên thường không cần dùng thuốc, chủ yếu giải quyết stress. Có nhà khoa học khuyên nên canh giờ để đánh thức trẻ khoảng 15 phút trước khi xảy ra cơn kinh hoàng đó, thức khoảng bốn - năm phút rồi cho ngủ lại. Ở trẻ bị nặng, hoặc ở người lớn, có thể điều trị bằng thuốc. Khi đang bị kinh hoàng ban đêm, đừng cố đánh thức bệnh nhân mà hãy vỗ về nhẹ nhàng.
Một dạng rối loạn khác thường gặp ở trẻ là chứng tiểu dầm: tiểu trong khi vẫn đang ngủ. Ở trẻ khỏe mạnh, tiểu dầm thấy ở khoảng 15-20% trẻ năm tuổi, 7% trẻ bảy tuổi, 5% trẻ 10 tuổi, 2% trẻ 12-14 tuổi và 1-2% trẻ 15 tuổi.
Trẻ nam hay bị hơn nữ và con đầu hay bị hơn con thứ. Điều trị bằng cách cho trẻ tập đi tiểu, không uống quá nhiều nước trước khi ngủ, và canh giờ để đánh thức trước khi có thể tiểu dầm.
Cha mẹ tránh la mắng dễ gây tổn thương tâm lý cho trẻ. Đa phần tiểu dầm sẽ hết theo thời gian, có khoảng 1% vẫn sẽ bị tiểu dầm khi đã là người lớn. Tiểu dầm ở người lớn là do thiếu hormone chống lợi niệu trong khi ngủ, có thể dùng thuốc để điều trị.
Theo Nga Thanh - Phụ nữ TPHCM
Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015
Dùng thuốc chống trầm cảm cho đúng
Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta thấy buồn rầu, điều này là hoàn toàn bình thường khi đứng trước một tình huống buồn bực hay đau khổ nào đó như mất mát người thân, mất việc.
Trong cuộc đời mỗi con người, có những lúc chúng ta thấy buồn rầu hay u ám, điều này là hoàn toàn bình thường khi đứng trước một tình huống buồn bực hay đau khổ nào đó như mất mát người thân, mất việc, hay li dị… Với hầu hết mọi người, cảm giác buồn bã và chán nản giảm dần theo thời gian.
Tuy nhiên, nếu những cảm giác trên kéo dài và trở nên trầm trọng hơn có thể là dấu hiệu của bệnh trầm cảm. Người trầm cảm có thể thấy tuyệt vọng, suy sụp tinh thần, thậm chí có người còn nghĩ đến cái chết hay tự sát cần phải được đi khám để được tư vấn và dùng thuốc hợp lý. Một trong những thuốc hay được dùng điều trị trầm cảm là fluoxetin.
Tuy nhiên khi dùng thuốc này người bệnh cần lưu ý, khi bắt đầu điều trị, tình trạng bồn chồn, lo lắng hoặc khó ngủ có thể bị tăng lên (10 - 20% số ca điều trị). Phản ứng buồn nôn lúc đầu và phụ thuộc vào liều cũng có thể xảy ra tới 10% các trường hợp dùng thuốc.
Người bệnh thường thấy mệt mỏi, chóng mặt, ra mồ hôi; buồn nôn, tiêu chảy, chán ăn; phát ban da, ngứa. Đối với nam thuốc có thể gây liệt dương, không có khả năng xuất tinh hoặc giảm tình dục. Ở một số người còn thấy tình trạng bồn chồn, mất ngủ, lo sợ... Nói chung các tác dụng phụ thường giảm dần sau vài tuần điều trị.
Tuy nhiên, người bệnh cần thông báo cho bác sĩ điều trị biết về các tác dụng phụ này khi mình gặp phải để được xử lý thích hợp. Người bệnh không được tự ý ngừng thuốc đột ngột.
Ngoài ra, tình trạng cơn hưng cảm và hưng cảm nhẹ đã xảy ra ở một số ít người bệnh điều trị bằng fluoxetin. Phản ứng toàn thân, đôi khi liên quan tới viêm mạch ở người bị nổi ban da do thuốc này. Những triệu chứng này có thể là thông báo nghiêm trọng về các phản ứng phụ toàn thân có thể xảy ra ở cả các cơ quan như gan, thận và phổi.
Thuốc có thể gây buồn ngủ, giảm khả năng suy xét, phán đoán, suy nghĩ hoặc khả năng vận động nên phải thận trọng khi lái xe, vận hành máy hoặc những công việc cần tỉnh táo.
Để khắc phục hiện tượng khô miệng khi dùng thuốc có thể nhai kẹo cao su hoặc kẹo không đường hoặc chất thay thế nước bọt để giảm khô miệng. Trường hợp khô miệng kéo dài trên hai tuần cần đến bác sĩ để khám.
Theo DS Hoàng Thu - Sức khỏe và Đời sống
Người mắc Alzheimer nên uống 3 tách cà phê mỗi ngày
Các nhà nghiên cứu Viện Thông tin Khoa học về cà phê (ISIC) đã phân tích dữ liệu từ khoảng 5.000 tình nguyện viên trung niên được theo dõi lượng cà phê bổ sung hàng ngày.
Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng, tiêu thụ ít nhất 3 cốc/ngày giảm nguy cơ mất trí nhớ trong thời gian 4 năm sau đó. Theo TS. Iva Holmerov, Phó Chủ tịch Viện Nghiên cứu Alzheimer châu Âu: "Nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy các yếu tố lối sống và yếu tố dinh dưỡng bao gồm cả tiêu thụ cà phê và caffeine có thể giúp làm chậm suy giảm nhận thức do tuổi tác".
Lý giải điều này, các nhà khoa học ISIC cho rằng: hai thành phần của cà phê là nguyên nhân giải thích tại sao nó có khả năng làm giảm nguy cơ sa sút trí tuệ là caffein và polyphenol. Caffein giúp tránh sự phát triển các mảng amynoid và đám rối neufibrulary trong não - là hai tác nhân phát triển bệnh Alzheimer. Ngoài ra, cả caffeine và polyphenol đều có tác dụng giảm viêm, đặc biệt trong vùng hippocampus và vỏ não - khu vực chức năng quan trọng của bộ nhớ.
Theo Huệ Minh - Sức khỏe và Đời sống
Cẩn thận với bệnh rối loạn tiền đình
Rối loạn tiền đình là chứng bệnh ngày càng phổ biến và tỷ lệ người mắc có xu hướng gia tăng, từ nhẹ đến nghiêm trọng.
Một nghiên cứu gần đây về dịch tễ học ở Mỹ ước tính 35% người từ 40 tuổi trở lên đã trải qua một số cơn rối loạn tiền đình. Cũng tại Mỹ, Viện Quốc gia về chứng điếc và rối loạn giao tiếp khác (NIDCD) báo cáo, 80% những người từ 65 tuổi trở lên thường bị chóng mặt, trong đó chóng mặt do rối loạn tiền đình chiếm khoảng 50%.
Rối loạn tiền đình không phải là bệnh lý mà là một hội chứng, gây nên bởi các tổn thương hệ thần kinh, tai, tim mạch, mắt, tâm thần và một số trường hợp lại là do thuốc tây. Chẩn đoán rối loạn tiền đình khó chỉ ra được vị trí tổn thương và nguyên nhân gây nên nó.
Để có được câu trả lời cụ thể, người bệnh cần khám chuyên khoa tai, mũi, họng và thần kinh. Đôi khi, để chẩn đoán được chính xác, bác sĩ còn phải làm các xét nghiệm hình ảnh học như chụp X quang, CT Scanner hoặc phải sử dụng cộng hưởng từ (MRI).
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
Một số nguyên nhân thường gặp dẫn đến bệnh là do virus gây viêm thần kinh sọ não số 8, thoái hóa một trong các cơ quan của hệ tiền đình, viêm tai giữa, chấn thương mê lộ, nghẽn tắc động mạch tiền đình, co thắt động mạch cột sống...
Theo nghiên cứu, nhiều nguyên nhân gây rối loạn tiền đình như thường xuyên sống trong môi trường quá ồn, thời tiết khó chịu khi chuyển mùa, ăn phải thức ăn bị nhiễm độc...
Một thực tế cho thấy rối loạn tiền đình rất dễ xảy ra ở những người làm việc trong môi trường văn phòng, như dân công sở, học sinh, sinh viên.
Nhân viên công sở thường ít vận động, ngồi nhiều trong văn phòng lâu ngày làm co thắt động mạch cột sống thân nền, dẫn đến tình trạng thiếu máu nuôi vùng não bộ gây ra bệnh rối loạn tiền đình. Một tỷ lệ lớn phụ nữ mắc chứng rối loạn tiền đình ở độ tuổi tiền mãn kinh.
Ngoài ra những người thường xuyên chịu căng thẳng về đầu óc, giới tính cũng là những đối tượng có khả năng mắc bệnh cao.
Triệu chứng
Chóng mặt, quay cuồng, hoa mắt, ù tai, buồn nôn hoặc năng hơn là mất thăng bằng là những biểu hiện dễ nhận thấy của rối loạn tiền đình. Tuy nhiên, về mặt chuyên môn, triệu chứng bệnh được chia làm 4 nhóm với những vị trí tổn thương khác nhau:
Chóng mặt. Ảo giác về sự di chuyển của môi trường xung quanh hoặc bản thân, thường là cảm giác xoay tròn hoặc bập bềnh. Các triệu chứng kèm theo là buồn nôn, nôn, đổ mồ hôi, mất cân bằng, nhìn mờ. Nguyên nhân là do tổn thương ở dây thần kinh ngoại biên hoặc trung ương của hệ thống tiền đình.
Ngất. Cảm giác đe dọa mất ý thức hoặc ngất, kèm theo đổ mồ hôi, buồn nôn, nhìn mờ hai mắt thoáng qua. Nguyên nhân là do tưới máu não giảm, gặp trong trường hợp bị tụt huyết áp, rối loạn chức năng tim hoặc phản xạ thực vật.
Mất thăng bằng. Cảm giác không cân bằng, không vững hoặc như say rượu. Nguyên nhân do mất đồng bộ giữa các thông tin từ tiền đình, tiểu não, cảm giác sâu, mắt, ngoại tháp.
Chóng mặt không xác định rõ. Cảm giác đầu lâng lâng, nặng hoặc sợ ngã (khác với các cảm giác mô tả ở ba phần trên). Triệu chứng này xuất hiện ở những bệnh nhân có các rối loạn cảm xúc khác như hội chứng tăng thông khí, lo âu, trầm cảm.
Các dạng chóng mặt đều có thể đẩy người bệnh vào trạng thái lo âu và ngược lại, sự lo âu cũng gây ra chóng mặt.
Điều trị
Các phương pháp điều trị cho rối loạn tiền đình phụ thuộc vào triệu chứng, bệnh sử và sức khỏe bệnh nhân.
Ở mức độ nhẹ, người bệnh có thể dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ, trường hợp nặng có thể phẫu thuật hoặc điều trị nội khoa.
Phòng tránh
Một số động tác với đầu và cổ sau đây, nếu thực hiện mỗi ngày có thể loại trừ nguy cơ gây rối loạn tiền đình:
Ngửa đầu ra sau, cúi đầu xuống, nghiêng đầu sang phải và sang trái hết cỡ. Quay đầu tròn chữ O bên phải rồi bên trái (khoảng 10 - 15 lần).
Nằm ngửa, để một tay ở đỉnh đầu, một tay dưới cằm, thật mềm cổ, vặn cằm về bên trái, rồi về bên phải, có tiếng kêu rắc rắc là tốt. Sau đó, lồng các ngón tay với nhau để vào sau gáy, kéo mạnh gập cằm về phía ngực (khoảng 10 lần).
Hai bàn tay miết mạnh vào nhau cho nóng, xoa đều vào mặt, hốc mắt và tai để tác động vào các nút thần kinh tai, mắt, mặt (khoảng 10 lần).
Tập thể dục như bình thường, vừa sức nhưng phải làm được 3 động tác cơ bản: Chạy đi chạy lại nhẹ nhàng 8 - 10 phút. Đứng hơi dạng hai chân, cúi người xuống, đầu ngón tay chạm vào ngón chân cái, vung hai tay và quay mặt về bên trái rồi về bên phải hết cỡ (nhớ là quay cả mặt). Làm 10 lần.
Bên cạnh việc tập thể dục đều đặn, người đã có bệnh cần điều chỉnh các thói quen, lối sống: để đèn ngủ sáng, không ngồi liên tục quá lâu, nhất là ngồi làm việc với máy tính, hạn chế uống rượu, cà phê, thuốc lá, tránh tiếp xúc với các chất liệu hoặc thực phẩm có mùi vị kích thích, tránh thay đổi tư thế đột ngột, không lái xe hoặc điều khiển máy móc có động cơ mạnh, giảm thiểu căng thẳng, lo âu, hoảng hốt, tránh leo trèo cao, không đọc sách báo khi đang di chuyển, ngồi hoặc nằm ngay khi cảm thấy chóng mặt.
Theo BS Bạch Long - Doanh nhân Sài Gòn
Rối loạn tiền đình - Hội chứng của nhiều nguyên nhân
Muốn xác định nguyên nhân rối loạn tiền đình, đôi khi các thầy thuốc chuyên khoa phải chụp X-quang, CT Scanner hoặc cộng hưởng từ (MRI) cho bệnh nhân.
Rối loạn tiền đình (RLTĐ) là một hội chứng của nhiều nguyên nhân gây nên chứ không phải là một bệnh. Không ít bệnh nhân nhận được một toa thuốc với chẩn đoán rối loạn tiền đình khi đi khám bệnh vì chóng mặt. Mặc dù khi chẩn đoán RLTĐ tự nó không nói lên được nơi tổn thương và nguyên nhân gây ra. Nó có thể do tổn thương hệ thần kinh, tai, tim mạch, mắt, tâm thần và một số do thuốc.
Muốn xác định nguyên nhân RLTĐ người bệnh nên đi khám chuyên khoa tai, mũi, họng, thần kinh. Đôi khi các thầy thuốc chuyên khoa phải làm các xét nghiệm hình ảnh học như chụp X-quang, CT Scanner hoặc phải sử dụng đến cộng hưởng từ (MRI).
Biểu hiện chóng mặt mà bệnh nhân than phiền thường được xếp vào những nhóm sau:
- Chóng mặt (Veltigo): Ảo giác (không có thật) về sự di chuyển của môi trường xung quanh hoặc bản thân, thường là cảm giác xoay tròn hoặc bập bềnh. Các triệu chứng kèm theo như buồn nôn, nôn, đổ mồ hôi, mất cân bằng, và nhìn mờ.. Tổn thương ở con đường thần kinh ngoại biên hoặc trung ương của hệ thống tiền đình.
- Ngất (Syncope presyncope): Cảm giác đe dọa mất ý thức hoặc ngất kèm theo đổ mồ hôi, buồn nôn, nhìn mờ hai mắt thoáng qua. Xảy ra do tưới máu não giảm, gặp trong tụt huyết áp, phản xạ thực vật, rối loạn chức năng tim.
- Mất thăng bằng: Cảm giác không cân bằng, không vững hoặc như say rượu. Xảy ra khi có sự mất đồng bộ các thông tin đi vào từ các cơ quan cảm giác phụ trách định hướng không gian như: tiền đình, tiểu não, cảm giác sâu, mắt, ngoại tháp.
- Chóng mặt không xác định rõ: Cảm giác đầu lâng lâng, nặng hoặc sợ ngã khác với các cảm giác mô tả ở ba phần trên. Ở các người bệnh có các rối loạn cảm xúc khác như: hội chứng tăng thông khí, lo âu, trầm cảm.
Một điều rất quan trọng cần lưu ý là tất cả các dạng chóng mặt đều có thể đẩy người bệnh vào trạng thái lo âu và ngược lại lo âu tự nó cũng gây ra chóng mặt nguyên nhân tâm lý.
Về phương diện thần kinh, chóng mặt gồm bốn nhóm nguyên nhân:
1. Chóng mặt nguyên nhân từ tai;
2. Chóng mặt do rối loạn thần kinh trung ương: tai biến mạch máu não (chiếm l/3), migraine cột sống thân nền (chiếm 15%), những nguyên nhân khác như: động kinh, xơ cứng rải rác...;
3. Chóng mặt do nguyên nhân tâm lý: trạng thái lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ;
4. Chóng mặt không rõ nguyên nhân: được chẩn đoán khi không có bất thường khách quan - thường gặp trong chóng mặt sau chấn thương đầu, hội chứng tăng thông khí, mất cân bằng ở người già.
Tóm lại, để chẩn đoán đúng cái gọi là RLTĐ, cần thiết nhất là phải phân biệt cho được than phiền của bệnh nhân thuộc nhóm nào, thăm khám kỹ các nguyên nhân để tránh bỏ sót các bệnh nguy hiểm. Đặc biệt người bệnh nên đi khám theo các chuyên khoa liên quan.
Muốn xác định nguyên nhân RLTĐ người bệnh nên đi khám chuyên khoa tai, mũi, họng, thần kinh. Đôi khi các thầy thuốc chuyên khoa phải làm các xét nghiệm hình ảnh học như chụp X-quang, CT Scanner hoặc phải sử dụng đến cộng hưởng từ (MRI).
Biểu hiện chóng mặt mà bệnh nhân than phiền thường được xếp vào những nhóm sau:
- Chóng mặt (Veltigo): Ảo giác (không có thật) về sự di chuyển của môi trường xung quanh hoặc bản thân, thường là cảm giác xoay tròn hoặc bập bềnh. Các triệu chứng kèm theo như buồn nôn, nôn, đổ mồ hôi, mất cân bằng, và nhìn mờ.. Tổn thương ở con đường thần kinh ngoại biên hoặc trung ương của hệ thống tiền đình.
- Ngất (Syncope presyncope): Cảm giác đe dọa mất ý thức hoặc ngất kèm theo đổ mồ hôi, buồn nôn, nhìn mờ hai mắt thoáng qua. Xảy ra do tưới máu não giảm, gặp trong tụt huyết áp, phản xạ thực vật, rối loạn chức năng tim.
- Mất thăng bằng: Cảm giác không cân bằng, không vững hoặc như say rượu. Xảy ra khi có sự mất đồng bộ các thông tin đi vào từ các cơ quan cảm giác phụ trách định hướng không gian như: tiền đình, tiểu não, cảm giác sâu, mắt, ngoại tháp.
- Chóng mặt không xác định rõ: Cảm giác đầu lâng lâng, nặng hoặc sợ ngã khác với các cảm giác mô tả ở ba phần trên. Ở các người bệnh có các rối loạn cảm xúc khác như: hội chứng tăng thông khí, lo âu, trầm cảm.
Một điều rất quan trọng cần lưu ý là tất cả các dạng chóng mặt đều có thể đẩy người bệnh vào trạng thái lo âu và ngược lại lo âu tự nó cũng gây ra chóng mặt nguyên nhân tâm lý.
Về phương diện thần kinh, chóng mặt gồm bốn nhóm nguyên nhân:
1. Chóng mặt nguyên nhân từ tai;
2. Chóng mặt do rối loạn thần kinh trung ương: tai biến mạch máu não (chiếm l/3), migraine cột sống thân nền (chiếm 15%), những nguyên nhân khác như: động kinh, xơ cứng rải rác...;
3. Chóng mặt do nguyên nhân tâm lý: trạng thái lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ;
4. Chóng mặt không rõ nguyên nhân: được chẩn đoán khi không có bất thường khách quan - thường gặp trong chóng mặt sau chấn thương đầu, hội chứng tăng thông khí, mất cân bằng ở người già.
Tóm lại, để chẩn đoán đúng cái gọi là RLTĐ, cần thiết nhất là phải phân biệt cho được than phiền của bệnh nhân thuộc nhóm nào, thăm khám kỹ các nguyên nhân để tránh bỏ sót các bệnh nguy hiểm. Đặc biệt người bệnh nên đi khám theo các chuyên khoa liên quan.
Theo BS Phạm Văn Ý - Người lao động
Tìm hiểu chứng rối loạn tiền đình
Người cứ thường xuyên bị chóng mặt, quay cuồng, hoa mắt, ù tai, buồn nôn, đi đứng nhiều khi bị mất thăng bằng...
Bệnh cứ hay tái phát, gây khó chịu, làm ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống. Đó là bạn đang gặp phải chứng rối loạn tiền đình.
Tiền đình là vùng nằm ở phía sau ốc tai (hai bên), là một hệ thống có vai trò quan trọng trong duy trì tư thế, dáng bộ, phối hợp cử động mắt, đầu và thân mình.
Theo BS Nguyễn Văn Tiên, khoa Nội Thần kinh - BV Cấp cứu Trưng Vương TPHCM, có hai loại rối loạn tiền đình: Rối loạn tiền đình ngoại biên do tổn thương tai trong, hoặc dây thần kinh tiền đình và rối loạn tiền đình trung ương do tổn thương nhân tiền đình, hay các đường liên hệ của các nhân dây này ở thân não, tiểu não.
Các dạng rối loạn tiền đình ngoại biên thường gặp:
- Thứ nhất là chóng mặt tư thế lành tính: Đây là triệu chứng hay gặp nhất. Cơn chóng mặt thường ngắn, xảy ra khi thay đổi tư thế đầu, tư thế nằm, ngồi; thường mắc phải sau chấn thương đầu, viêm mê đạo (thuộc vùng ốc tai) do siêu vi, tắc mạch máu ở vùng sau cổ.
- Thứ hai là bệnh Menière, biểu hiện chóng mặt nặng kèm theo nôn ói kéo dài, ù tai, nặng tai, giảm thính lực một hoặc cả hai bên tai (nếu bị tái phát nhiều lần).
- Thứ ba là chóng mặt sau chấn thương sọ não, kèm nặng đầu, khó tập trung, choáng váng, hồi hộp, sợ ánh sáng...
Ngoài ra, còn có các dạng bệnh tiền đình ngoại biên khác như: viêm tai xương chũm mạn tính, xơ cứng tai, các loại thuốc gây tổn thương tiền đình - ốc tai như: một vài loại thuốc kháng sinh, thuốc lợi tiểu, thuốc chống ung thư, thuốc giảm đau, rượu, xạ trị...
Các dạng rối loạn tiền đình trung ương thường gặp
- Thứ nhất là thiểu năng tuần hoàn não, xảy ra có thể do thiểu năng động mạch cột sống thân nền; do xơ mỡ động mạch; do hạ huyết áp tư thế; cơn nhịp Stokes - Adams; do thoái hoá cột sống cổ làm chèn ép mạch máu.
- Thứ hai là nhồi máu vùng thân não.
- Thứ ba là u góc cầu tiểu não xơ cứng rải rác từng đám...
Khi mắc phải những triệu chứng rối loạn tiền đình, người bệnh cần đến khám ở chuyên khoa nội thần kinh, hoặc chuyên khoa tai - mũi - họng, để được chẩn đoán, xác định nguyên nhân mà có hướng chữa trị thích hợp. Việc chữa trị rối loạn tiền đình phần lớn là điều trị nội khoa và cần đề phòng, tránh để bệnh tái phát, nhất là với rối loạn tiền đình ngoại biên.
Rối loạn tiền đình dễ xảy ra ở những người làm việc văn phòng, ngồi nhiều trong phòng lạnh và tiếp xúc thường xuyên với máy tính. Vì ngồi nhiều trong phòng lạnh, vùng cột sống cổ dễ bị nhiễm lạnh, lâu ngày làm co thắt động mạch cột sống thân nền, dẫn đến rối loạn tiền đình ngoại biên. Đây cũng là nguyên nhân khiến bệnh dễ tái phát nếu không lưu ý kỹ.
Theo Thanh niên


Thứ Năm, tháng 1 08, 2015
sống khỏe