Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015

Rối loạn tiền đình kéo dài có thể dẫn đến u não, đột quỵ

Chóng mặt, choáng váng mặt mày… mỗi khi thay đổi tư thế là những biểu hiện rõ nhất của chứng rối loạn tiền đình.

Rối loạn tiền đình gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người bệnh, khiến người mắc không thể làm việc hay hoạt động một cách bình thường.

Rối loạn tiền đình
Ảnh minh họa (Ảnh: Internet)

Gần đây chị Phan Hoài Thương, 45 tuổi đang làm nhân viên hành chính tại một công ty dệt may ở Q.10. TPHCM không biết vì công việc nhiều hay do tuổi tác mà chị thường xuyên khó ngủ, người mệt mỏi. Vào buổi đêm về sáng sớm, mỗi khi trở mình chị hay thấy lao đao, ngồi dậy thì khó khăn vì chóng mặt.
Tuần trước, đang ngồi làm việc, chị Thương thấy người mỏi mệt định đứng dậy đi lại cho bớt mỏi thì cơn buồn nôn ập đến, sau đó chị chạy vào nhà vệ sinh nôn dữ dội, mở mắt thấy mọi vật quay cuồng, đảo lộn, chân tay run đứng không vững, người mệt lả. Lo lắng, chiều hôm đó chị vội vàng đi khám thì các bác sĩ kết luận chị bị chứng rối loạn tiền đình.
Không được may mắn như chị Thương, chị Hoàng Ngọc Thu ở Q.5, TPHCM phải nhập viện cấp cứu trong tình trạng mất nước, mất chất điện giải nghiệm trọng. Nguyên nhân là do chị Thu chủ quan với sức khỏe của mình. 

Trước đó, cơ thể chị Thu đã có nhiều biểu hiện khác lạ, thường xuyên xuất hiệnnhững cơn đau đầu dữ dội, miệng nôn, chân tay run, nhưng chị Thu chủ quan cho rằng mình làm việc nhiều căng thẳng và do cảm nắng… nên chị không đi khám bác sĩ.
Chỉ đến khi, chị Thu ngất xỉu trong nhà vệ sinh thì cả nhà mới tá hỏa cho chị nhập viện để điều trị. Các bác sĩ cho biết chị Thu mắc bệnh rối loạn tiền đình do tắc nghẽn máu não.
Bệnh từ những cơn chóng mặt
BS Hoàng Văn Thông (Khoa Nội thần kinh, BV TW Quân đội 108, Hà Nội) cho biết: Tiền đình là một hệ thống có vai trò quan trọng trong việc duy trì tư thế và dáng bộ trong phối hợp các cử động của mắt, đầu và thân mình, giúp duy trì việc nhìn cố định vào một vật. 

Hệ thống tiền đình bao gồm tiền đình ngoại biên và tiền đình trung ương. Chóng mặt là ảo giác vận động của cơ thể hay môi trường xung quanh, và là một kích thích sinh lý hoặc rối loạn bệnh lý của hệ tiền đình, hệ thị giác, hệ cảm giác sâu.
Có khá nhiều nguyên nhân gây rối loạn tiền đình như:
- Môi trường thời tiết thường xuyên thay đổi bất ngờ đang mưa chuyển thành nắng, hoặc đang nắng chuyển mưa tạo môi trường thuận lợi cho người bệnh phát huy nhưng cơn đau đầu.
- Do nhiễm độc hóa chất, thuốc tây y hoặc do chế độ ăn uống khiến cho người bệnh khó tiêu hóa người căng thẳng mệt mỏi.
- Ngoài ra, còn do hệ tuần hoàn hoặc hệ thần kinh, tạo máu của người bệnh gặp trục trặc khiến cho việc lưu thông của các mạch máu lên não trở nên khó khăn gây ra những cơn đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, nôn thốc nôn tháo, người lao đao, đi lại chệnh choạng, đứng không vững, thậm chí phải nằm liệt, mọi vật như đảo lộn, quay cuồng...
- Bệnh có thể diễn biến trong vài ba ngày, rồi hồi phục dần nhưng cũng có thể kéo dài và để lại những di chứng mất thăng bằng, lao đao, mắt mờ nhòe, chân tay tê bì, run rẩy, suy yếu mệt mỏi một thời gian, ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe.
BS. Hoàng Văn Thông cũng cho biết thêm, người có dấu hiệu trên nên đi khám ở cơ sở chuyên khoa nội thần kinh để được định bệnh đúng và chữa trị kịp thời. Điều này không chỉ giúp phát hiện và điều trị sớm, mà còn giúp tránh được những tai biến có thể xảy ra.
Hiện nay có rất nhiều loại thuốc dùng cho bệnh này nhưng việc điều trị phải do bác sĩ chuyên khoa thần kinh chỉ định và phải tuân theo những chỉ định đó thì bệnh mới tiến triển tốt được.

Trường hợp của chị Thương và chị Thu trên là điển hình cho những người bị chứng rối loạn tiền đình. Những biểu hiện của hai chị khá rõ nét và cũng không phải mới bị, nó tương đối nặng, nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến những bệnh khác.
Để hạn chế rủi ro
Theo BS Hoàng Văn Thông, bệnh rối loạn tiền đình về cơ bản không gây quá nguy hiểm, những cơn đau đầu chỉ xuất hiện một lúc rồi sẽ qua. Nhưng nếu để tình trạng kéo dài, và diễn biến phức tạp có thể dẫn tới u não, hoặc tắc nghẽn mạch máu não gây đột quỵ nguy hiểm tới tính mạng người bệnh.
Để phòng ngừa bệnh rối loạn tiền đình, tránh những cơn chóng mặt, đau đầu bất chợt, người bệnh cần tránh ngồi nhiều trong phòng lạnh, tránh ngồi lâu trước máy vi tính… Nếu người bị bệnh, bên cạnh việc dùng một số loại thuốc để điều trị (cần có kê đơn của bác sĩ) người bệnh nên có một chế độ vận động, luyện tập thường xuyên và dinh dưỡng hợp lý.

Theo Đông Thảo - Sức khỏe gia đình

4 loại thuốc quen thuộc có thể gây bệnh Parkinson

Lạm dụng thuốc có thể mở đường cho sự tấn công của Parkinson, một căn bệnh về hệ vận động với những biểu hiện rung tay chân và thân mình thường gặp ở người già.


Parkinson
Parkinson là bệnh rối loạn thần kinh thuộc hệ vận động, cụ thể là hệ vận động ngoại tháp (điều khiển những động tác tự động). Biểu hiện khó chịu nhất của bệnh là run tay chân và thân mình. Bệnh không gây tử vong nhưng lại khiến cho cuộc sống của bệnh nhân trở nên tồi tệ. Những bệnh nhân mắc bệnh nặng không thể cầm nắm các đồ vật chỉ vì… run. Người bệnh phải phụ thuộc vào người khác, dần dần sinh chán nản và thất vọng về bản thân và cuộc sống.
Cho đến nay, nguyên nhân chính xác của bệnh Parkinson nguyên phát chưa được chỉ ra. Nhưng có một điều rõ ràng là ngày càng có nhiều bệnh nhân bị bệnh Parkinson do lạm dụng thuốc. Dưới đây là 4 nhóm thuốc nằm trong top nguy hiểm mà bạn cần phải cẩn trọng.
1. Nhóm thuốc an thần
Nhóm thuốc an thần là nhóm thuốc đầu bảng gây ra biến chứng Parkinson. Chúng bao gồm Phenothiazin (Clorpromazin), Butyrophenon (Haloperidol) và Thioxanthen.
Đây là những thuốc hướng thần kinh mạnh có tác dụng xoa dịu thần kinh, giúp cho hệ thần kinh nghỉ ngơi hồi phục. Nhóm này thường dùng điều trị cho các bệnh tâm thần như hưng cảm, lo âu, tâm thần phân liệt, mất ngủ, suy nhược.
Nhưng không may, chúng lại gây tác dụng phụ trên hệ thần kinh tâm thần và là một nguy cơ gây ra bệnh Parkinson. Chỉ cần dùng liều cao thuốc này trên 2 tuần là bạn đã có thể có nguy cơ bị Parkinson. Nếu dùng trên 6 tháng thì gần như 100% tai biến xảy ra.
2. Nhóm thuốc bổ não
Nhóm thuốc bổ não từ trước đến nay vẫn được xếp vào nhóm thuốc hay bị lạm dụng. Quan niệm thuốc bổ thì uống không có hại khiến cho không ít người… "bỗng dưng" mắc bệnh. Hai loại thuốc điển hình trong nhóm này là Cinnarizin (Stugeron, Vertizin) và Flunarizin (Vasotense, Siberizin); thường xuyên được sử dụng ở những người đau đầu, chóng mặt do thiểu năng tuần hoàn não, do rối loạn tiền đình.
Việc lạm dụng thuốc này có thể gây ra các triệu chứng của bệnh Parkinson được phát hiện từ năm 1985, đồng thời các nhà nghiên cứu cũng thấy rằng phụ nữ thì dễ bị tai biến hơn nam giới. 
Vẫn chưa tìm ra nguyên nhân rõ ràng nhưng các chuyên gia thiên về giả thiết: Nhóm thuốc này làm ức chế bơm calci, ức chế các điểm nhận cảm dopamin mà đây lại là một chất rất cần thiết để điều trị Parkinson. Vì vậy, những bệnh nhân nữ mắc chứng tiền đình cần đặc biệt cẩn trọng với loại thuốc này để không mắc Parkinson.
3. Nhóm thuốc chẹn calci
Nhóm thuốc chẹn canxi được sử dụng cho bệnh nhân tim mạch như tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim khá thường xuyên và có thể phải sử dụng kéo dài. Thuốc có thể giúp bệnh nhân khống chế các rắc rối do bệnh tim mạch gây ra nhưng lại gây tác dụng phụ lên hệ thần kinh.
Amlodipine, Manidipine, Diltiazem, và Verapamil là những loại thuốc điều trị bệnh tăng huyết áp, thiểu năng động mạch vành và nhịp tim nhanh thông qua việc ức chế bơm calci ở cơ tim. 
Tuy nhiên, chúng cũng vô tình ức chế luôn việc bơm calci trên hệ thần kinh ngoại tháp, làm ảnh hưởng đến khả năng giải phóng các chất trung gian hóa học thần kinh, dẫn đến bệnh Parkinson. Người ta đã ghi nhận có nhiều trường hợp bị bệnh này khi đang dùng những thuốc kể trên.
4. Thuốc động kinh
Thuốc chống động kinh loại axit valproic là một thuốc chống động kinh thế hệ mới có hiệu quả khá cao. Nhưng nó đang bị nghi ngờ là gây ra tác dụng phụ trên hệ thần kinh ngoại tháp. Thậm chí một số ý kiến còn cho rằng nó là nguyên nhân chính gây ra tình trạng bệnh Parkinson sau khi điều trị động kinh. Và nếu so sánh giữa việc bị co giật do động kinh thì việc run tay chân đến mức không cầm nổi cốc uống nước do Parkinson cũng không hề dễ chịu hơn.
Dấu hiệu của Parkinson
Nếu bạn phát hiện 2 trong số 3 triệu chứng dưới đây nghĩa là bạn đã bị Parkinson:
- Tay, chân tự động run khi nghỉ.
- Tay, chân cứng đờ, không mềm dẻo, kém linh hoạt; cảm giác như bị giật cục khi gấp duỗi tay, chân.
- Giảm các vận động cơ nhỏ, kể cả trên gương mặt khiến mặt luôn có vẻ lãnh đạm, thờ ơ, lạnh lùng, không thể hiện sắc thái.
Theo BS Yên Lâm Phúc - Sức khỏe gia đình
Học viện Quân y

Dấu hiệu nhận biết bệnh u não

U não là một trong những chứng bệnh nguy hiểm, nhưng thường có kết quả hồi phục tốt nếu được phát hiện sớm và điều trị tích cực.



Ảnh: flickr.com
Nhận biết được nguyên nhân và các dấu hiệu sớm của bệnh u não có thể giúp bệnh nhân kiểm soát được căn bệnh này một cách hiệu quả nhất.
Theo các chuyên gia y tế Mỹ, triệu chứng của bệnh u não thường không rõ ràng, các biểu hiện cũng khác nhau ở từng người và tùy vào vị trí, kích thước của khối u.
Tuy nhiên, các triệu chứng điển hình của bệnhu não thường là:
Nhức đầu
Theo thống kê của các chuyên gia y tế thế giới, một nửa số người có khối u trong não thường hay bị đau đầu. Đau đầu do khối u não thường kèm theo các triệu chứng khác như hắt hơi, nặng đầu, choáng váng.

Ảnh: flickr.com
Buồn nôn
Nếu bạn cảm thấy buồn nôn hoặc nôn mửa, đặc biệt là vào buổi sáng có thể là một triệu chứng của khối u não. Tuy đây không phải là triệu chứng phổ biến, nhưng vẫn thỉnh thoảng xảy ra.
Tương tự như chứng nhức đầu, nôn mửa cũng là một triệu chứng khá mơ hồ có thể xuất phát từ một số nguyên nhân khác.

Ảnh: flickr.com
Tâm trạng thay đổi
Các chuyên gia y tế Mỹ còn cho biết, những người có khối u não đôi khi cũng có những thay đổi tính cách thất thường như bực bội, khó chịu và điều đó làm gián đoạn các hoạt động trong sinh hoạt hằng ngày.
Bên cạnh đó, bệnh nhân cũng có thể cười vào những điều không hài hước, bất ngờ ham muốn tình dục, bốc hỏa, hoang tưởng, phóng đại các hiện tượng, sự kiện bình thường…

Ảnh: flickr.com
Động kinh, co giật
Động kinh và co giật (cơn) cũng là một triệu chứng phổ biến của các khối u "tấn công" não bộ. Một số người có thể bị co thắt cơ bắp, mà có thể co giật hoặc co giật của một cánh tay hoặc chân, hoặc đôi khi toàn bộ cơ thể, thỉnh thoảng họ có thể bị bất tỉnh.

Ảnh: flickr.com
Suy giảm nhận thức
Mất trí nhớ, khó tập trung suy nghĩ hay tốc độ xử lý của não chậm lại cũng có thể là triệu chứng điển hình của u não. Nếu bạn nhận thấy mất nhiều thời gian để hoàn thành nhiệm vụ hơn so với trước kia, hãy đến bác sĩ để được thăm khám và điều trị kịp thời.
Suy yếu thị lực và thính giác
Các chuyên gia y tế Mỹ cho biết, một số khối u não có thể gây ra rối loạn thị giác và thính giác. Do đó, nếu bạn gặp gặp trục trặc với tầm nhìn như nhìn thấy ánh đèn nhấp nháy, mờ, và những hạt li ti nổi lên trước mắt; trong khi rối loạn thính lực có thể bao gồm điếc một bên tai hoặc ù tai thì cũng nên đi khám sức khỏe ngay.

Ảnh: flickr.com
Thay đổi vật lý
Một số người có khối u não cảm thấy yếu ở một bên cơ thể, trở nên vụng về, mất thăng bằng hoặc hay va chạm vào các vật cản mỗi khi đi bộ.
Một dáng đi bất thường cũng có thể có xuất hiện ở những người u não.
Tốc độ nói suy giảm
Nói chậm hoặc trở nên khó diễn đạt suy nghĩ, cảm xúc cũng có thể xảy ra ở những bệnh nhân u não. Các câu nói có xu hướng lộn xộn và thậm chí kèm theo các từ không liên quan đến vấn đề được đề cập. Đây là một trong những triệu chứng khó chịu thường xảy ra ở những người có khối u não.
Nếu cơ thể bạn có những thay đổi bất thường nói trên thì nên chủ động thăm khám sức khỏe ngay để có các biện pháp phòng ngừa và điều trị chứng u não cho phù hợp.

Ảnh: flickr.com
Theo Đình Huệ - Phụ nữ TPHCM
(Theo macmillan.org.uk& cancer.org)

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

5 điều bạn phải nhớ để tránh bị đau đầu

Đừng nằm gối quá cao
Ngủ ít hoặc ngủ không ngon cũng khiến ta dễ bị đau đầu. Nên bảo đảm mỗi đêm ngủ được từ 6-8h. Lưu ý, lúc ngủ đừng gối đầu quá cao.
phòng đau đầu
Lúc ngủ chúng ta không nên gối đầu quá cao.
Hít thở không khí trong lành
Tập hít thở sâu trong không khí trong lành rất có ích trong việc làm dịu chứng đau đầu.
Ngồi trên ghế hay gối mềm
Khi bạn ngồi trên một chiếc gối, giường hay một tràng kỷ êm ái, mông của bạn sẽ bị ngập lõm xuống gối và xương chậu nghiêng về phía sau. Khi khung xương chậu nghiêng ra khỏi vị trí trung lập, cơ thể sẽ phải làm việc nhiều hơn để giữ cho cơ thể của bạn thẳng đứng và bạn cũng không thể thực sự thư giãn thoải mái được.
Hãy chọn một vị trí bằng phẳng (như ghế dài hay ghế dựa cứng) để ngồi, tránh cho các cơ quan trong cơ thể phải làm việc quá sức.
Giúp mắt nghỉ ngơi
Điều chỉnh tư thế ngồi và nguồn sang. Thỉnh thoảng phóng tầm mắt thật xa để thư giãn.
Nhai gừng
Nhai gừng sống có thể làm giảm buồn nôn và các vấn đề về tiêu hóa thường đi kèm với chứng đau nửa đầu. Gừng còn ngăn chặn những tác động của các chất prostaglandin, là những chất có thể gây viêm sưng mạch máu trong não, gây đau nửa đầu.
Theo Vân Anh - Khỏe và Đẹp

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

Đau nửa đầu có thể làm tăng gấp đôi nguy cơ liệt nửa mặt

Nghiên cứu mới cho thấy đau nửa đầu có thể tăng gấp đôi nguy cơ liệt dây thần kinh IIV ngoại biên dễ gây méo miệng.

Tác giả nghiên cứu Shuu-Jiun Wang thuộc ĐH Quốc gia Yang-Ming ở Đài Bắc cho biết: "Đây là mối liên quan mới giữa đau nửa đầu và méo miệng".
Trong nghiên cứu này, có hai nhóm gồm 136.704 người trong độ tuổi ≥18, một nhóm bị đau nửa đầu và nhóm còn lại không bị, tất cả được theo dõi trung bình 3 năm.
Trong thời gian theo dõi, có 671 người nhóm chứng bị đau nửa đầu và 365 người nhóm còn lại bị đau nửa đầu mới chẩn được đoán bị liệt nửa mặt.
Những người bị đau nửa đầu dễ tăng gấp đôi nguy cơ liệt nửa mặt ngay cả sau khi các nhà nghiên cứu tính đến các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ này như huyết áp cao và đái tháo đường.
Tác giả cho biết: "Nhiễm trùng, viêm nhiễm hoặc các bệnh về tim mạch cũng có thể gây ra tình trạng này do nhiều nguyên nhân".
Nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Neurology.


Theo Minh Thúy - Tiền Phong

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Ðể dùng thuốc chống động kinh an toàn

Cho đến nay, phương pháp phổ biến nhất để điều trị động kinh là dùng thuốc chống động kinh. Và, việc dùng thuốc phải do bác sĩ khám, chỉ định dựa trên thực tế người bệnh.

Còn người bệnh cần tuân thủ dùng thuốc...
Dùng thuốc như thế nào?
Thuốc chống động kinh có hiệu quả đầu tiên là bromua, được giới thiệu bởi một bác sĩ người Anh tên là Sir Charles Locock năm 1857. Ông nhận thấy rằng, bromua có tác dụng an thần và dường như để giảm co giật ở một số bệnh nhân.
Đến nay, có đến hơn 20 loại thuốc chống động kinh trên thị trường. Mỗi loại đều có những lợi ích và tác dụng phụ khác nhau. Lựa chọn loại thuốc nào để kê đơn và dùng ở liều lượng nào còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như các loại co giật, mức độ thường xuyên xảy ra những cơn co giật, lối sống của người bệnh, tuổi tác, giới, phụ nữ mang thai hoặc sắp mang thai... 
Vì vậy, người bị động kinh cần thực hiện và tuân thủ theo lời khuyên của bác sĩ và chia sẻ những mối quan tâm liên quan đến thuốc với bác sĩ điều trị.
Ðể dùng thuốc chống động kinh an toàn
Hình ảnh sóng não của người bình thường và người bệnh động kinh.
Một số thuốc chống động kinh thường dùng như carbamazepine, valproate, lamotrigine, oxcarbazepine hoặc phenytoin. Ngoài ra, một số thuốc động kinh tương đối mới bao gồm tiagabine, gabapentin, topiramate, levetiracetam, và felbamate. Một vài loại thuốc, chẳng hạn như fosphenytoin được phê duyệt chỉ sử dụng trong môi trường bệnh viện...
Đối với hầu hết người bị động kinh, co giật có thể được kiểm soát với chỉ một loại thuốc với liều lượng tối ưu. Việc kết hợp thuốc thường làm tăng thêm tác dụng phụ như mệt mỏi, chán ăn, vì vậy bác sĩ thường sử dụng đơn trị liệu hoặc việc sử dụng chỉ một loại thuốc, bất cứ khi nào có thể. Chỉ dùng phối hợp thuốc khi đơn trị liệu không hiệu quả kiểm soát cơn động kinh của bệnh nhân.
Số lần một người cần phải uống thuốc mỗi ngày thường được xác định bởi thời gian bán hủy của thuốc hoặc thời gian cần cho một nửa liều thuốc được chuyển hóa hoặc chia nhỏ thành các chất khác trong cơ thể. Một số loại thuốc, chẳng hạn như phenytoin và phenobarbital chỉ cần được thực hiện một lần/ngày, trong khi valproate phải được thực hiện hai hoặc ba lần/ngày.
Đề phòng những nguy cơ do thuốc
Hầu hết các tác dụng phụ của thuốc chống động kinh thường nhẹ như mệt mỏi, chóng mặt hoặc tăng cân. Tuy nhiên, tác dụng phụ nghiêm trọng và đe dọa tính mạng như dị ứng cũng có thể xảy ra. Thuốc động kinh cũng có thể ảnh hưởng đến người bệnh trầm cảm hoặc rối loạn tâm thần. Người bị động kinh nên tham khảo ý kiến bác sĩ ngay lập tức nếu họ gặp bất kỳ loại phát ban trong khi dùng thuốc hoặc nếu họ thấy tâm trạng chán nản hoặc không thể suy nghĩ một cách hợp lý.
Người bị động kinh nên biết rằng thuốc chữa động kinh của họ có thể tương tác với nhiều loại thuốc khác khi dùng đồng thời và các tương tác này có thể gây hại. Vì lý do này, người bị động kinh nên luôn luôn nói với bác sĩ điều trị về các loại thuốc họ đang dùng. Phụ nữ cũng nên biết rằng một số loại thuốc chống động kinh có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của thuốc tránh thai và họ nên thảo luận về khả năng này với bác sĩ của họ.
Đối với người cao tuổi, cơ thể trở nên nhạy cảm hơn với thuốc, vì thế cần kiểm tra máu thường xuyên để điều chỉnh liều (nếu cần thiết). Không uống thuốc với nước cam, quýt, bưởi vì sẽ gây tương tác thuốc ảnh hưởng tới quá trình điều trị hoặc làm tăng độc tính của thuốc.
Khi một người bắt đầu dùng một loại thuốc động kinh mới, điều quan trọng là điều chỉnh liều lượng để đạt được hiệu quả chữa bệnh tối ưu và giảm thiểu tác dụng phụ của thuốc.
Khi nào có thể ngừng điều trị?
Động kinh là một trạng thái bệnh lý kéo dài và có thể mạn tính tuỳ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh đặc biệt là các tổn thương ở não hoặc là một ổ động kinh hoặc là do ngưỡng co giật ở não bị hạ thấp.Vì vậy, cần phải điều trị động kinh một cách lâu dài và kiên trì. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp, hoàn cảnh cho phép đặt vấn đề ngừng điều trị động kinh. 
Ví dụ: Chưa có chẩn đoán chắc chắn là động kinh thì có thể cẩn thận giảm dần liều rồi đi đến cắt bỏ thuốc chống động kinh đồng thời cảnh giác có thể xảy ra trạng thái động kinh; Một số thể lâm sàng có thể ngừng điều trị như động kinh có cơn kịch phát ở vùng đỉnh, động kinh cơn nhỏ ở trẻ em, động kinh toàn bộ nguyên phát dạng cơn lớn ở trẻ em (chỉ xảy ra 2-3 lần một năm), động kinh toàn bộ nguyên phát dạng cơn lớn ở tuổi thiếu niên, động kinh sau chấn thương không tiến triển và không nặng lắm...
Việc ngừng điều trị này phải do thầy thuốc chuyên khoa cân nhắc và quyết định. Nói chung sau 3-4 năm với phương thức điều trị đều đặn mà không thấy cơn động kinh tái phát thì có thể ngừng điều trị đối với các thể nói trên. Tiến hành ngừng điều trị bằng cách giảm dần liều điều trị trong thời gian kéo dài hàng tháng, mặt khác tiếp tục theo dõi điện não đồ và nội khoa nói chung.
Theo DS. Nguyễn Thị An - Sức khỏe và Đời sống

Những cách phòng tai biến mạch máu não

Tai biến mạch máu não đáng sợ không chỉ vì nó gây chết người mà còn bởi nếu may mắn song sót, họ có nguy cơ tàn phế suốt đời rất cao.

Nhiệt lượng thấp
7 cách dưới đây giúp giảm thiểu nguy cơ tai biến mạch máu não:
Nhiệt lượng thấp
Ít ăn thực phẩm có nhiều chất béo bão hòa và cholesterol sẽ giúp giảm nguy cơ tai biến mạch máu não, suy trì sức khỏe não bộ.
Hàng ngày ít nhất ăn 110g hoa quả và rau xanh, lựa chọn đồ ăn vặt có nhiệt lượng, chất béo thấp, cố gắng dùng dầu ô liu hoặc thực vật, hạn chế ăn quá mặn.
Giảm trọng lượng
Trọng lượng cơ thể vượt chuẩn hoặc béo phì sẽ làm cho chất béo trong cơ thể dư thừa, tạo mỡ máu và huyết khối. Ngoài ra, còn tăng gánh nặng cho tim làm cho huyết áp tăng cao.
Giảm cân sẽ đồng nghĩa với giảm thấp những nguy cơ này.
Vận động nhiều
Vận động là bác sỹ sức khỏe tuyệt vời nhất, là phương pháp tiêu hao nhiệt lượng trong cơ thể tốt nhất, giảm nhẹ thể trọng đồng thời còn trợ giúp cải thiện chức năng tim mạch, tránh được nguy cơ đột quỵ, giống như mua cho não một phần bảo hiểm y tế.
Hàng ngày tốt nhất duy trì 30 phút vận động mạnh, mỗi tuần ít nhất tập luyện 5 ngày, vận động đa dạng ví dụ nhày dây, tản bộ, đi bộ nhanh, bơi, đi xe đạp vv
Hạn chế rượu
Thành phần cồn trong rượu sẽ làm giảm khả năng co bóp của cơ tim. Uống rượu quá lượng sẽ hại cho cơ tim, gây cao huyết áp và tai biến mạch máu não đồng thời làm tăng nguy cơ béo phì.
Hạn chế rượu tương đương với việc "mua" bảo hiểm rủi ro cho não. Nam giới uống rượu không nên vượt quá 2 ly nhỏ/ngày, nữ giới chỉ 1 ly/ngày (1 ly tương đương với 340g bia, 142g rượu vang đỏ hoặc 42.5g rượu trắng).
Khống chế huyết áp
Cao huyết áp là thủ phạm gây ra tai biến mạch máu não đồng thời gây xơ vữa động mạch vành, xơ hóa cơ tim, thận yếu, mờ mắt, mù mắt. Khống chế huyết áp là cách hữu hiệu tránh được các bệnh hiểm nghèo. Người mắc bệnh cao huyết áp nên tuân thủ yêu cầu của bác sỹ trong dùng thuốc, ăn uống hợp lý, tăng cường luyện tập.
Cai thuốc lá
Khói thuốc không ngừng vắt kiệt sức khỏe, Carbon monoxide và nicotine gây hẹp mạch máu, làm tăng nguy cơ huyết khối, từ đó gây hại cho hệ tim mạch và não bộ.
Uống nước
Nhiều nghiên cứu phát hiện, người uống mỗi ngày ít nhất uống 6 cốc nước thì nguy cơ tử vong do tai biến mạch máu não giảm hơn 50% so với người ít uống nước. Vì nước giúp làm loãng máu. Ngoài ra, uống nước còn có ích cho sự trao đổi chất, giúp ngăn ngừa táo bón, thúc đẩy tiêu hóa.

Theo Tùng Đan - Dân trí/ xinhuanet

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons