This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014
Tự kỷ: Môi trường quan trọng hơn gen
Một nhóm nghiên cứu trường ĐH Stanford đã so sánh những trường hợp bị tự kỷ ở 54 cặp song sinh cùng trứng và 138 cặp song sinh khác trứng có chung một nửa số gen giống nhau). Ở mỗi cặp, có ít nhất là 1 trẻ bị tự kỷ.
Họ phát hiện thấy rằng những cặp song sinh cùng trứng có nguy cơ tự kỷ cao hơn những cặp song sinh khác trứng. Nhưng những cặp khác trứng lại có nguy cơ phát triển bệnh tự kỷ cao hơn so với những trẻ em trong các gia đình đã từng có anh chị em bị tự kỷ.
Theo đó, môi trường chung ở các cặp song sinh giải thích cho khoảng 55% trường hợp tự kỷ, tất nhiên, các yếu tố di truyền vẫn đóng vai trò quan trọng.
“Yếu tố môi trường đóng một vai trò quan trọng hơn so với quan niệm trước đây”, TS Joachim Hallmayer, ĐH Y Stanford (California, Mỹ), trưởng nhóm nghiên cứu kết luận.
Trong một nghiên cứu khác của phòng nghiên cứu thuộc công ty bảo hiểm Kaiser Permanente (Oakland, California, Mỹ), Lisa Croen, trưởng nhóm nghiên cứu và là GĐ Chương trình Nghiên cứu tự kỷ, cho biết: sau khi kiểm tra hồ sơ y tế các bà mẹ của 300 trẻ tự kỷ và 1.500 trẻ được lựa chọn ngẫu nhiên, những bà mẹ có con tự kỷ có xu hướng uống thuốc chống trầm cảm trong suốt 1 năm trước khi họ mang thai nhiều gấp 2 lần so với các bà mẹ có con khỏe mạnh. Và nguy cơ thậm chí còn lớn hơn (cao gấp 3) khi thuốc được uống trong 3 tháng đầu thai kỳ.
Những phát hiện được đăng tải trên tạp chí Archives of General Psychiatry cho thấy có một số yếu tố trong quá trình mang thai như thuốc, hóa chất hay nhiễm bệnh có thể kích họat chứng tự kỷ ở những trẻ mà đã mang sẵn gen gây bệnh.
“Có những yếu tố gen có thể góp phần làm tăng nguy cơ tự kỷ. Chúng tôi đã có những bằng chứng rõ ràng cho thấy nguyên nhân hàng đầu gây bệnh là di truyền và các yếu tố môi trường trước khi sinh có thể đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của chứng tự kỷ”, Clara Lajonchere, tác giả của nghiên cứu và là chủ tịch chương trình Trẻ tự kỷ cho biết.
Tự kỷ là một tập hợp của nhiều rối loạn, từ không có khả năng giao tiếp đến chậm phát triển tinh thần hay các biểu hiện nhẹ với với hội chứng Asperger. Nó ảnh hưởng tới 1/150 trẻ sinh ra tại Mỹ hay nói cách khác là chiếm 1% dân số.
Theo Thu Phương - Dân trí/ Reuters
Bệnh lưỡng cực: Gen đặc biệt của thiên tài
Chứng bệnh tâm thần lưỡng cực (hưng cảm/trầm cảm) đã giúp có được những phát minh, cống hiến về văn học, nghệ thuật vô cùng vĩ đại cho nhân loại.
Khi nữ tài tử nổi tiếng Catherine Zeta Jones công khai xác nhận là bị chứng bệnh tâm thần lưỡng cực (Bipolar disorder) đã làm cho dư luận quần chúng chú ý đến một chứng bệnh rất phổ biến.
Bipolar disorder từng có những ảnh hưởng rất to lớn lên lịch sử thế giới vì rất nhiều nhân tài xuất chúng có mang tật này và đôi khi chính nhờ thế nên đã có những phát minh, cống hiến về văn học, nghệ thuật vô cùng vĩ đại cho nhân loại.
Catherine, 41 tuổi và chồng là Michael Douglas vừa được chữa trị về chứng bệnh ung thư cuống họng. Chính biến cố này làm cho Catherine bị trầm cảm nặng, phải vào một bệnh viện tâm thần điều trị.
Cả Catherine và Michael đều cho biết là đã đến lúc cần phải làm sáng tỏ cho dư luận quần chúng hiểu rõ hơn về căn bệnh này và không nên có những thành kiến sai lạc như là một điều gì xấu xa hay tạm gọi là bệnh tầm thần hay bệnh điên.
Bệnh lưỡng cực và các thiên tài
Căn bệnh này còn có tên là Bipolar hay Manic depressive tức là vừa hưng cảm / trầm cảm và rất phổ biến.
Trên cả nước Mỹ có thể lên tới trên 3 triệu người hay cao hơn, nghĩa là trên 1 % và có trên khắp thế giới, bất kể quốc gia nào hay văn hóa nào Đông hay Tây đều có người mắc chứng bệnh này.
Sau khi các nguyên nhân và triệu chứng được sắp xếp và định bệnh chính xác bởi các cuộc khảo cứu về tâm thần, các sử gia cũng như khoa học gia đã lục tìm ra được nhiều trường hợp của một số nhân tài trước đây đã có chứng bệnh này.
Khi họ ở vào thời kỳ hưng cảm thì đã có những lúc xuất thần tạo nên những tuyệt phẩm mà một người bình thường không thể nào làm được.
Nhưng khi những người này bị lâm vào chu kỳ trầm cảm (depression) thì lại có những trạng thái chán đời, u uất khiến đôi khi tự hủy hoại bản thân như trường hợp của họa sĩ lừng danh Vincent van Gogh hay đại văn hào Ernest Hemingway.
Ernest Hemingway
Khoảng 40% thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ nổi tiếng nhất, cũng mang căn bệnh này và những tác phẩm của họ đã trở thành những khuôn mẫu cho các thế hệ mai sau làm gương nhưng không thể nào theo kịp như Lord Byron, Emily Bronte (Anh), Paul Verlaine, Victor Hugo, Chateaubriand (Pháp), Mark Twain, Virginia Woolf, Emily Dickinson (Mỹ).
Đặc biệt nhất là Emily Dickinson sau khi từ trần thì các tác phẩm mới được hậu thế biết đến và khâm phục.
Con số những thiên tài trong mọi lĩnh vực có chứng lưỡng cực không thể kể hết.
Có giả thuyết cho rằng chính nhờ có các chu kỳ hưng cảm nên những nhân tài đó mới thực hiện được những công trình có một không hai như bức tranh vẽ “đêm trăng sao” (Starry night) của Van Gogh với những hình ảnh lạ lùng, quái đản mà chỉ có những khối óc phi thường mới thực hiện được.
Van Gogh đã thực hiện kiệt tác này trong khi đang dưỡng bệnh tại nhà thương St Remy và hiện nay bức tranh này được dùng làm mẫu nhiều nhất trong lịch sử hội họa.
Winston Churchill là người được thế giới ca ngợi là nhờ những bài diễn văn hùng hồn đã giúp cho dân chúng nước Anh có được sự can đảm, chịu đựng phi thường để chiến thắng Đức Quốc Xã trong những lúc đen tối nhất.
Sau này ông chỉ mất 15 ngày để viết xong tập khảo cứu gồm 4 cuốn dày hàng ngàn trang “Lịch sử dân tộc nói tiếng Anh”. Tác phẩm này đã được giải thưởng Nobel văn chương 1953 nhờ vào lúc ông ở vào một chu kỳ hưng cảm (mania), không ăn, không ngủ để hoàn tất tác phẩm để lại cho mai sau.
Tập hồi kỳ 6 cuốn về Đệ Nhị thế chiến cũng được hoàn tất trong một thời gian ngắn kỷ lục.
Ngoài tài viết văn thì Churchill còn là một họa sĩ nổi tiếng vì một số khá lớn họa sĩ cũng có chứng lưỡng cực như Picasso, Andy Warhol và một số họa sĩ nhóm impressionist.
Có thể là vì những người này nhờ lúc hưng cảm nên đã có những nhãn quan khác thường mà người bình thường không thể có được. Churchill đã từng nói “những trở ngại của tôi không làm cho tôi bị trở ngại”.
Chứng lưỡng cực xảy ở tất cả mọi thành phần trong xã hội nhất là trong giới nghệ thuật, văn học, hội họa, âm nhạc (Mozart, Schumann, Rosemary Clooney) và cả khoa học gia, chính trị gia (Teddy Roosevelt, Churchill).
Theo khảo cứu của BS Kay Jamison của Đại Học Johns Hopkins thì chính vì những hưng cảm nên những nhân tài kể trên mới đạt được những thành quả đó và bà đã ghi lại trong cuốn sách “touched by fire” về kinh nghiệm bản thân.
Triệu chứng và nguyên nhân
Ngày nay cơ chế của chứng lưỡng cực đã được khảo cứu rất nhiều trong đó nguyên nhân di truyền đã được xác nhận vì chứng này hay xảy ra trong một gia đình. Gần đây, những khảo sát bằng DNA cũng đã tìm ra được một số gen của chứng lưỡng cực.
Những thay đổi các hóa chất neuro transmitter trong não bộ làm cho tâm tính thay đổi lên xuống thất thường.
Một vài khảo cứu bằng CT, MRI scan cũng cho thấy có một vài điểm khác thường trong não bộ.
Những người có chứng lưỡng cực được sắp làm nhiều loại như 1 và 2 tùy theo triệu chứng nặng hay nhẹ.
Những người có chứng lưỡng cực được sắp làm nhiều loại như 1 và 2 tùy theo triệu chứng nặng hay nhẹ.
Những lúc hưng cảm thì hoạt động và nói năng mau lẹ và dồn dập (pressure of speech), tư tưởng thay đổi thất thường không nhất định gọi là flight of ideas.
Còn những lúc trầm cảm thì khép kín, không tiếp xúc với bên ngoài, chán nản bỏ ăn bỏ ngủ hoặc đôi khi ngủ quá nhiều.
Những giai đoạn trầm cảm hay hưng cảm thường hay xảy ra khi người bệnh bị stress như trường hợp của Catherine Zeta Jones hay vì một biến cố bất thường nào đó.
Những cơn hưng cảm hay trầm cảm cũng thường hay xảy ra vào tháng 4 và tháng 5 và có thể liên hệ tới ánh nắng hay thời tiết thay đổi và ảnh hưởng lên não bộ.
Một số người bị nhẹ được gọi là hypomania và thường có một năng xuất về trí tuệ hơn mức bình thường.
Theo lời BS Jamison thì họ là những người thành công trong đời nhưng có những thay đổi bất thường trong đó có thói hay tiêu xài bừa bãi phí phạm, bài bạc như trường hợp của Lord Byron khiến dễ mắc nợ, khánh kiệt (tạm gọi là thói hay bốc đồng) nhất là trong giới văn nghệ sĩ.
Một số vì không ý thức về căn bệnh này nên có thể bị mắc phải chứng nghiện rượu (Edgar Allan Poe), ma túy hay hút thuốc lá, cần sa như Paul Verlaine và có thể gần đây trường hợp của Michael Jackson.
Có thể trong giới nhạc sĩ Việt Nam cũng có một số thiên tài có chứng lưỡng cực nên đã có một sức sáng tạo mãnh liệt lên tới cả ngàn bản nhạc.
Bệnh lưỡng cực có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi và có thể sớm ở lứa tuổi thanh thiếu niên cũng như trễ hơn vào thời trung niên và có thể kéo dài cả đời.
Nếu không mắc phải những tật đi kèm như hút thuốc, uống rượu và được chữa trị đúng mức thì sự nghiệp về sau rất tốt và như lời BS Jamison thì một số có thể là những thiên tài với những khả năng khác thường và đóng góp nhiều cho xã hội.
Một vài nhà tỷ phú như Ted Turner có tật này và đã có sáng kiến lập ra đài CNN làm thay đổi chính trị của cả thế giới bằng hình thức thông tin mau lẹ chính xác 24/ 24.
Rất có thể TT Richard Nixon cũng có chứng này vì lịch sử ghi lại ông hay có những thời kỳ trầm cảm, tâm tư u uẩn cũng như có lúc làm việc hăng say khác thường.
Chữa trị
Chứng lưỡng cực ngày nay có thể chữa trị dễ dàng với thuốc lithium là căn bản cùng một số thuốc khác như lamotrigine và một số thuốc an thần hoặc điều biến tâm trạng (mood moderator), chống co giật như sodium valproate giúp cho sinh hoạt bình thường.
Những phương pháp tâm lý như liệu pháp nhận thức (cognitive therapy) cũng rất có lợi nhưng không quan trọng bằng dùng dược phẩm vì ngày nay cơ chế do sinh hóa đã được xác nhận rõ ràng.
Chủ trương trước đây chỉ điều trị bằng cố vấn tinh thần hay phân tâm học không còn được chấp nhận nữa. Gần đây đã có một vài trường hợp của một số người vì lý do tín ngưỡng không chịu để cho người thân được chữa trị bằng thuốc mà chỉ tin vào cầu nguyện bùa chú đã bị truy tố và trừng phạt bởi pháp luật.
Theo lời BS David Miklowitz của Đại Học UCLA thì ngoài việc chữa trị bằng thuốc và tâm lý trị liệu thì cần tránh những nguyên nhân stress gây ra tạo nên một chu kỳ trầm cảm hoặc hưng cảm.
Cần phải được sớm điều trị hoặc vào bệnh viện như trường hợp của Catherine Zeta Jones thì chỉ mất vài ngày là bình phục và trở lại làm việc như bình thường.
BS David cho rằng, ngày nay Y học đã có những khám phá về bệnh lưỡng cực mà cách đây 20 năm chưa mấy ai biết tới như trường hợp của Thượng nghị sĩ Thomas Eagleton thuộc bang Missouri khi bị khám phá có bệnh trầm cảm thì đã bị loại ra khỏi danh sách tranh cử của TNS McGovern bị thua Richard Nixon vào lúc đó.
BS Miklowitz cũng đồng ý với BS Jamison là có một liên hệ rõ ràng giữa chứng lưỡng cực và khả năng sáng tạo xuất chúng (creativity) nên một số nhân tài về âm nhạc, hội họa, văn chương có mang trong người căn bệnh này hay đúng hơn những gen đặc biệt của những thiên tài..
Nhưng cơ chế khoa học của chứng lưỡng cực chưa được hiểu rõ trước đây như trường hợp của Van Gogh, cả đời nghèo khổ và từ trần trong một dưỡng trí viện trong khi ngày nay thì mỗi bức tranh có thế bán được hàng chục triệu USD.
Theo BS Vũ Văn Dzi - Y dược Ngày nay
Những thói quen làm bạn “mất” trí nhớ
Chế độ ăn uống, thời gian ngủ hay thói quen hằng ngày đều có thể gây hại đến trí nhớ của chúng ta.
Alzheimer là bệnh mất trí không thể chữa được, được đặt theo tên vị bác sĩ tâm thần và thần kinh học người Đức Alois Alzheimer.
Trong thập kỉ qua, tỉ lệ tử vong của hầu hết các bệnh đều giảm, riêng sốc ca tử vong do bệnh Alzheimer lại tăng 66 %.
Các ca mắc bệnh Alzheimer được ghi nhận phổ biến từ 45 đến 56 tuổi. Điều đó cho thấy mất trí không phải là bệnh của người già.
Nghiên cứu về căn bệnh này, các nhà khoa học chỉ ra rằng chỉ cần một thay đổi nhỏ trong thói quen, chúng ta có thể đẩy lùi được căn bệnh nguy hiểm này.
Sau đây là những thói quen không tốt cho trí nhớ:
Chế độ ăn uống nghèo nàn
Một nghiên cứu của đại học Tuifts cho thấy các phụ nữ có chế độ ăn kiêng có trí nhớ kém hơn người ăn đủ chất.
Các chuyên gia của Đại học Cambridge nghiên cứu ở trên chuột và cho biết: Những con chuột ăn uống bình thường có khả năng hoàn thành một mê cung nhanh hơn 1/4 thời gian so với những con chuột ăn kiêng.
Hút thuốc lá
Hút thuốc lá
Tạp chí Y tế công cộng của Mỹ công bố thuốc lá làm suy giảm trí nhớ trong độ tuổi từ 43 đến 53. Hơn nữa, hút thuốc còn làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc căn bệnh Alzheimer.
Ngủ không đủ giấc
Ngủ không đủ giấc
Cần lưu ý là chúng ta không chỉ nói về số lượng mà điều quan trọng là chất lượng của giấc ngủ.
Trí nhớ của con người được củng cố trong giấc ngủ. Một người ngủ 8 tiếng một ngày nhưng nếu bị đánh thức giữa chừng thì quá trình củng cố trí nhớ cũng bị gián đoạn.
Lười tập thể dục
Trí nhớ của con người được củng cố trong giấc ngủ. Một người ngủ 8 tiếng một ngày nhưng nếu bị đánh thức giữa chừng thì quá trình củng cố trí nhớ cũng bị gián đoạn.
Lười tập thể dục
Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ khẳng định tập thể dục có tác động tốt lên hồi hải mã (một phần của não trước có nhiệm vụ lưu giữ thông tin).
Nghiên cứu cũng cho thấy không bao giờ là quá muộn để bắt đầu tập thể dục và cải thiện chức năng của bộ nhớ.
Uống nhiều bia rượu
Nghiên cứu cũng cho thấy không bao giờ là quá muộn để bắt đầu tập thể dục và cải thiện chức năng của bộ nhớ.
Uống nhiều bia rượu
Việc lạm dụng bia rượu sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của não. Trí nhớ bị suy yếu rõ rệt sau một đêm dùng nhiều rượu bia.
Tuy nhiên, nếu sử dụng rượu bia vừa phải lại có khả năng làm giảm nguy cơ mất trí nhớ.
Tuy nhiên, nếu sử dụng rượu bia vừa phải lại có khả năng làm giảm nguy cơ mất trí nhớ.
Theo Thanh Xuân - Bee.net.vn/H.A.N
9 tác hại khi trẻ thiếu ngủ
Trẻ khó tiếp thu bài học hoặc tập trung vào nhiệm vụ của mình thường bị cho là mắc rối loạn tăng động, nhưng có khi nguyên nhân chỉ vì thiếu ngủ.
Rối loạn giấc ngủ ở trẻ em có thể ảnh hưởng đến cả gia đình. Trẻ em ở tuổi đi học cần ngủ ít nhất 10-12 giờ mỗi ngày. Bài tập ở nhà, hoạt động thể dục thể thao, các hoạt động sau giờ học, xem TV, máy tính, trò chơi video và sự bận rộn của cha mẹ có thể góp phần khiến trẻ thiếu ngủ.
Trẻ có thể hay cáu gắt, nóng giận hay bồn chồn lo lắng do thiếu ngủ
Một nghiên cứu gần đây cho thấy tác động của việc trẻ thiếu ngủ có thể khiến chúng dễ dàng mệt mỏi vào ban ngày, khó khăn trong việc tập trung, dễ nổi cáu và thất vọng, và khó điều chỉnh cảm xúc. Và sau đây là một loạt các hậu quả gây ra cho trẻ do việc thiếu ngủ:
1. Ngủ trong lớp: Đây là một phản ứng tự nhiên là nếu một đứa trẻ ngủ ít vào ban đêm, hệ quả là sẽ ngủ trong lớp học ngày hôm sau. Điều này khiến trẻ bị thiếu thông tin bài học do giáo viên đưa ra. Trẻ em sẽ không tỉnh táo và đủ năng lượng trong cả ngày.
2. Thiếu tập trung: Thiếu ngủ sẽ gây ra mệt mỏi ở trẻ em và trẻ không thể tập trung tốt vào bài học quan trọng.
3. Gắt gỏng: Thiếu ngủ có thể gây khó chịu hoặc hành vi của trẻ em có xu hướng hiếu động, gây khó khăn cho việc học ở trường.
4. Giảm chỉ số IQ: Các nhà nghiên cứu tại Đại học Virginia, Hoa Kỳ đã phát hiện ra rằng người bị mất ngủ thì trí thông minh bị giảm sút. Họ cũng có thể có điểm số điểm thấp hơn ở trường học và có thể không thể phát triển mối quan hệ tốt với đồng nghiệp. Các chuyên gia cho rằng giấc ngủ có thể bảo vệ bộ nhớ khỏi chứng rối loạn bộ nhớ. Trẻ càng ngủ nhanh sau khi học thi, càng có nhiều khả năng nhớ bài khi đi thi.
Ngủ gật và thiếu tập trung khiến trẻ không nắm được nhiều thông tin bài học ở trường
5. Vấn đề cảm xúc: Thiếu ngủ có thể làm tăng các hormone cortisol gây căng thẳng. Kết quả có thể xảy ra các vấn đề liên quan đến trầm cảm và lo âu. Điều này có thể làm cho trẻ cảm thấy buồn, giận dữ, mệt mỏi, lo lắng và thậm chí sinh bệnh. Bởi vì chỉ là một đứa trẻ, nên rất khó để trẻ có thể biết làm thế nào để xử lý các cảm xúc tiêu cực. Trẻ em chỉ có thể khóc, mất hy vọng và sự tự tin.
6. Vấn đề cân nặng:. Một nghiên cứu của Trường Y tế Johns Hopkins Bloomberg phát hiện ra rằng thiếu ngủ có thể gây ra bệnh béo phì ở trẻ em. Được biết, cứ mỗi giờ ngủ thêm ở trẻ em, nguy cơ thừa trọng lượng giảm 9%. Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng 92% trẻ em thiếu ngủ nhiều khả năng bị béo phì khi trưởng thành hơn những người ngủ đủ giấc.
7. Khó suy nghĩ một cách logic: Thiếu ngủ dẫn đến kiệt sức và có thể giết chết khả năng suy nghĩ một cách hợp lý. Suy nghĩ tích cực rất quan trọng đối với một đứa trẻ có thể suy nghĩ một cách logic. Tất cả những bài học trẻ em học ở trường có thể bị lãng quên do thiếu ngủ.
8. Mầm mống gây ADHD: Một nghiên cứu được Đại học Michigan tiến hành được công bố trên tạp chí Nhi khoa phát hiện ra rằng ngưng thở khi ngủ, ngáy ngủ và rối loạn giấc ngủ góp phần gây chứng ADHD ở trẻ em. Phụ huynh của trẻ em bị chứng này thường đánh giá của con em họ yếu và hay có cảm giác bồn chồn trong giấc ngủ. Thậm chí trong một số trường hợp, những trẻ em này thường xuyên thức dậy vào ban đêm hơn so với bạn bè cùng trang lứa.
9. Bệnh tiểu đường: Đây là một tác động bất lợi của tình trạng thiếu ngủ ở trẻ em. Mất ngủ ở trẻ em ảnh hưởng đến sự hấp thu glucose. Theo Hiệp hội Tiểu đường Mỹ, ngủ thiếu hai giờ mỗi đêm trong một tuần có thể tăng khả năng kháng insulin, do đó tăng nguy cơ bệnh tiểu đường. Nguy cơ béo phì do thiếu ngủ cũng có thể làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường type 2 sau này.
Theo Damai - VTC News
Điều trị chứng ngưng thở lúc ngủ
Thở áp lực dương liên tục (thở CPAP) là một trong nhiều phương pháp điều trị chứng ngưng - giảm thở khi ngủ.
Tính hiệu quả của phương pháp này được chứng minh dựa theo nhiều kết quả nghiên cứu trước đây.
Mới đây các nhà khoa học lại khẳng định thêm thở CPAP 6 giờ mỗi đêm giúp cải thiện chức năng thần kinh nhận thức ở những người bị ngưng thở khi ngủ.
Đây là kết quả của một trong những nghiên cứu có thời gian theo dõi dài nhất. Theo đó, có 67 người bị chứng ngưng thở khi ngủ ở mức độ nặng tham gia phác đồ điều trị thở CPAP trung bình sáu giờ/đêm trong vòng 18 tháng. Kết quả những người này đã giảm đáng kể số lần ngưng thở khi ngủ, cải thiện tình trạng giảm oxy máu, đồng thời tăng sự tập trung và trí nhớ so với trước khi điều trị.
Theo BS Huỳnh Khiêm Huy- Tuổi Trẻ
Người thành phố dễ bị stress hơn nông dân... là do não
Những người sống ở nông thôn ít bị stress hơn so với người sống ở thành phố lớn bởi vì bộ não của họ phản ứng khác nhau với môi trường sống.
100.000 dân dễ bị stress hơn người sống ở nông thôn - Ảnh: Reuters
Kết quả nghiên cứu mới đây trên tạp chí Nature ngày 23/6 cho thấy những người sinh ra và lớn lên trong các thành phố lớn thường có cảm giác lo âu, bất an và hay bị stress nhiều hơn những người sống ở nông thôn, nhưng chưa tìm được các bằng chứng sinh học để lý giải cho kết luận này.
Sau khi lần lượt chụp cắt lớp não của ba nhóm tình nguyện viên ở Đức (tổng cộng 92 người), nhóm nghiên cứu Đức phát hiện: não của người sống trong thành phố trên 100.000 dân sử dụng nhiều amygdala - phần chất xám tựa như quả hạnh, hiện diện trong mỗi bán cầu, có liên quan đến cảm giác sợ hãi và kích động - hơn người nông thôn nên dễ bị stress hơn. Bên cạnh đó, “nguy cơ bị chứng tâm thần phân liệt ở người thành thị cao gấp đôi so với người nông thôn” - giáo sư Jens Pruessner, một thành viên nhóm nghiên cứu, cho biết.
Theo giáo sư Pruessner, “nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu hơn về những tác động môi trường sống ở đô thị lớn lên não người và sức khỏe con người nói chung”.
Theo Duy Phúc- Tuổi Trẻ
“Độc thoại” cũng là bất thường
Mặc dù được xem là hành động mang tính chất cá nhân và hoàn toàn vô hại, tự nói chuyện với chính mình đôi khi cũng mang lại rắc rối nho nhỏ.
Nói chuyện một mình có thể khiến bạn trông thật thật ngớ ngẩn và khác thường trong mắt người khác
Taị sao lại có hiện tượng độc thoại?
Nói chuyện với chính mình là một hiện tượng trong thực tế không hẳn đã là bất thường bởi hầu hết mọi người ít nhất cũng có đôi lần tự “tâm sự với chính mình”. Dường như mọi người đều cho rằng tự nói chuyện với mình giống như một hành vi gàn dở, nhưng trong thực tế nó lại có thể giúp bạn suy nghĩ và tìm ra những ý tưởng mới. Dù bất cứ lý do gì đi chăng nữa, sau khi im lặng một khoảng thời gian, chúng ta thường có xu hướng ngoại hiện ý nghĩ và điều này tất yếu dẫn tới hành động độc thoại.
Thường thì chúng ta sẽ nói chuyện với chính mình khi ở một mình trong một khoảng thời gian nào đó. Hành động này sẽ phá tan bầu không khí, sự yên lặng, và đem lại sự giải trí trong một chừng mực nhất định.
Chỉ khi nội dung “ngoại hiện” là nguy hiểm hay mang tính phá hoại thì hành động độc thoại mới trở thành vấn đề đáng quan tâm. Không thể phủ nhận mặt tích cực của nói chuyện một mình, nhưng nếu bạn nói về những thứ gây thất vọng và tiêu cực thì đây thực sự là một vấn đề bởi nó có thể dẫn tới những rắc rối về tâm lý như chán nản, thất vọng.
Để không độc thoại…
Nếu muốn dừng việc nói chuyện một mình thì có một vài phương pháp đơn giản mà bạn có thể thử. Như trên đã nói, nguyên nhân chính của độc thoại là bởi bạn không có ai bên cạnh và phải ở một mình. Nói một cách khác, cách tốt nhất để tránh nói chuyện một mình là phải chắc chắn rằng bạn có người khác để nói chuyện cùng và bạn luôn hướng ngoại. Tất nhiên, nếu bạn chịu cảnh cô đơn vì một lý do nào đó, hãy cố gắng để gọi một ai đó để nói chuyện để có thể giảm khả năng tự nói chuyện với chính mình.
Một cách hiệu quả khác là nghe nhạc. Nhạc có thể làm phân tán suy nghĩ độc thoại của bạn bằng lời hát và làm quên đi hành động nói chuyện một mình. Cùng lúc đó, nếu cố gắng hát theo nhạc sẽ giúp “tập thể dục cho giọng nói” và bạn sẽ không còn cơ hội để nói chuyện với chính mình. Nếu bạn tự nói chuyện chỉ để phá vỡ sự im lặng, vậy nghe nhạc thực sự là giải pháp hữu ích cho bạn.
Cũng tương tự như tivi, hãy cố gắng xem truyền hình hoặc nếu không xem vẫn nên để tivi mở chỉ để có tiếng động và tạo không khí ai đó đang ở nhà cùng bạn. Xem tivi hay đọc một cuốn sách cũng giúp bạn tập trung và làm não bạn có công việc để xử lý.
Những cách trên có thể giúp bạn không độc thoại. Đôi khi, có thể đơn giản chỉ là nhai một cây kẹo cao su để giữ miệng luôn bận rộn cũng có thể giúp bạn giải quyết tình trạng này.
Theo Nguyễn Nhung - Dân trí


Chủ Nhật, tháng 11 02, 2014
sống khỏe