Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Dinh dưỡng cho người bệnh tai biến mạch não

Tai biến mạch máu não hay đột quỵ não là tình trạng rối loạn chức năng thần kinh với các biểu hiện đột ngột như hôn mê, liệt nửa người, nói ngọng, nuốt bị sặc... Chế độ dinh dưỡng hợp lý sẽ giúp người bệnh tránh tai biến nặng hơn, nhanh hồi phục và giảm bớt sự tiến triển bệnh.
Nhu cầu dinh dưỡng cần thiết ở bệnh nhân đột quỵ
Người bị tai biến thường do nhiều nguyên nhân, trong đó ăn uống vô độ cũng là một nguyên nhân, đặc biệt ăn quá nhiều thực phẩm chứa nhiều đường, nhiều mỡ, nhiều protein hoặc nhiều muối. Tuy nhiên cũng có trường hợp do ăn quá ít thức ăn làm lượng mỡ, đạm, vitamin và khoáng chất trong cơ thể bị thiếu hụt dẫn đến tai biến. Do vậy, một chế độ ăn uống hợp lý sẽ rất quan trọng để phòng và chữa bệnh. Sau đây xin giới thiệu thực đơn cần thiết với người bệnh đột quỵ.
Dinh dưỡng cho người bệnh tai biến mạch não
Người bệnh tai biến mạch máu não nên ăn các loại thực phẩm giàu axit folic có trong các loại hạt, đậu, ngũ cốc.
Nhu cầu về đạm (protein): cần giữ ở mức 0,8g/kg cân nặng/ngày. Nên chọn thực phẩm ít cholesterol và nhiều đạm thực vật (đậu đỗ, đậu tương, đậu phụ) và đạm động vật (cá biển, cá đồng, sữa, thịt nạc...). Nếu bệnh nhân có kèm theo suy thận, cần giảm lượng đạm từ 0,4 - 0,6g/kg cân nặng/ngày.
Nhu cầu về chất béo: nên giữ ở mức 25 - 30g chất béo/ngày, trong đó 1/3 là chất béo động vật và 2/3 là chất béo thực vật như vừng, lạc. Ngoài ra, các loại axit béo trong dầu thực vật có khả năng làm giảm nguy cơ đột quỵ, đặc biệt là do cục máu đông trong lòng mạch máu não.
Nhu cầu về vitamin và chất khoáng: Có trong các loại hoa quả chín, rau củ, sữa. Chúng chứa nhiều kali, có tác dụng lợi tiểu, giảm huyết áp ở người bệnh và chống lại tình trạng toan của cơ thể. Trung bình một quả chuối có 400mg kali, tương đương với 1 ly nước cam hay một củ khoai tây nướng. Người tiêu thụ dưới 1.500mg kali/ngày sẽ có nguy cơ đột quỵ cao hơn 28% so với người tiêu thụ 2.300mg/ngày. Ngoài ra, axit folic là chất rất cần cho cơ thể có tác dụng chống xơ vữa động mạch, giảm huyết áp và giảm cholesterol trong máu... Nghiên cứu cho thấy, bổ sung ít nhất 300mcg axit folic mỗi ngày sẽ làm giảm 20% nguy cơ đột quỵ và 13% nguy cơ bệnh tim so với người dùng dưới 136mcg/ngày. Axit folic có trong các loại quả có vị chua, rau lá xanh, các loại đậu, gạo, mỳ và các sản phẩm từ ngũ cốc. Gan cũng chứa nhiều axit này.
Nhu cầu về năng lượng: Năng lượng trong khẩu phần nên giảm bớt để tránh tăng cân, giảm nhẹ hoạt động cho bộ máy tiêu hóa và tuần hoàn. Mức năng lượng đưa vào cơ thể nên dừng ở 30 - 35kcalo/kg cân nặng/ngày. Nguồn năng lượng nên lấy từ rau củ, khoai, đậu đỗ, cơm, mỳ, bún, miến.
Nguyên tắc chế biến thức ăn cho người bị đột quỵ
Thức ăn phải dễ tiêu hóa, hấp thu và ở dạng mềm, lỏng như súp, cháo, sữa. Cần phân bố đều 3 - 4 bữa/ngày, không nên ăn quá no. Tránh dùng thức ăn lên men, gây kích thích như gia vị cay, nóng, rượu, chè, cà phê...
Khẩu phần ăn cần giảm muối và nước do bệnh nhân không bài tiết được nhiều muối và nước vì bị tụ máu ở tĩnh mạch gây phù, chức năng thận kém. Nếu bệnh nhân suy tim thì lượng nước đưa vào cơ thể phải phụ thuộc vào lượng nước tiểu bài tiết trong 24 giờ. Hạn chế ăn muối ở mức 4 - 5g/ngày để giảm phù, giúp thận bài tiết các chất đào thải của chuyển hóa đạm, chất béo, tinh bột, đường. Tránh các loại thức ăn chế biến sẵn nhiều muối như dưa, cà, hành muối, bánh mỳ, thịt hun khói, batê, xúc xích...
Lời khuyên của thầy thuốc
Tai biến mạch máu não là một biến chứng nặng, cho dù điều trị tích cực cũng dễ để lại di chứng nặng nề. Vì vậy, các bác sĩ khuyên cần điều trị các nguyên nhân gây tai biến mạch máu não như điều trị tăng huyết áp, điều trị xơ vữa động mạch, phòng và điều trị bệnh tiểu đường, giảm cân nếu thừa cân, tránh căng thẳng thần kinh (không nên giận dữ, kích động, đau buồn, lo lắng sợ sệt), ăn uống hợp lý, không uống rượu bia, tập luyện đều đặn không quá sức... Cần đến khám tại cơ sở y tế khi có các triệu chứng đau đầu, chóng mặt, khó thở, mệt không rõ nguyên nhân để được phát hiện và điều trị sớm.

BS. Vũ Hồng Ngọc

Rối loạn thần kinh thực vật do đâu?

Rối loạn thần kinh thực vật (RLTKTV) ảnh hưởng đến chức năng tự động của các cơ quan trong cơ thể như nhịp tim, huyết áp, mồ hôi và tiêu hóa... Đây không phải là một bệnh cụ thể mà chỉ là những rối loạn hoạt động hệ thần kinh tự động. Bệnh làm giảm hoạt động hoặc bất thường một hay nhiều chức năng tự động của cơ thể.
Nguyên nhân gây RLTKTV
RLTKTV có thể là một biến chứng của một số bệnh hay tác dụng phụ của một số thuốc. Có nhiều nguyên nhân gây bệnh như: các bệnh tự miễn, các cuộc tấn công hệ thống miễn dịch và thương tổn các bộ phận của cơ thể, dây thần kinh; do sự tấn công hệ miễn dịch của một số bệnh ung thư. Bệnh tiểu đường là nguyên nhân phổ biến nhất của RLTKTV, dần dần có thể gây tổn thương thần kinh khắp cơ thể. Tổn thương dây thần kinh do phẫu thuật vùng cổ hoặc do xạ trị. Tác dụng phụ của một số loại thuốc sử dụng trong điều trị ung thư, thuốc chống trầm cảm và một số thuốc tim mạch. Bệnh mạn tính như bệnh Parkinson. Một số bệnh truyền nhiễm: do virut và vi khuẩn, như ngộ độc thức ăn, bệnh bạch hầu... Rối loạn di truyền. Rối loạn tâm sinh lý: các sang chấn tinh thần, thủ dâm quá nhiều ở cả nam và nữ...
Rối loạn thần kinh thực vật do đâu? 1
 Sơ đồ chi phối các cơ quan của hệ thần kinh thực vật.
Biểu hiện bệnh
Hệ thần kinh thực vật gồm hệ thần kinh giao cảm và hệ thần kinh phó giao cảm. Sự mất cân bằng của hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm dẫn đến bệnh lý của hệ thần kinh thực vật. Tùy thuộc vào loại rối loạn mà bệnh biểu hiện thành các triệu chứng khác nhau:
Hệ thần kinh: rối loạn vận mạch gây đau đầu khi thay đổi thời tiết; rối loạn tuần hoàn não, giảm trí nhớ, giảm tập trung, ngủ kém, lo âu, buồn bực vô cớ.
Tim mạch: chóng mặt và choáng tư thế đứng do tụt huyết áp, hồi hộp, hụt hơi, nhịp tim nhanh hoặc chậm, huyết áp tăng giảm thất thường, đau thắt ngực, thiểu năng mạch vành, khó thích ứng với hoạt động thể lực, nhịp tim thay đổi một cách chậm chạp hoặc không thay đổi để đáp ứng kịp thời với hoạt động thể lực hoặc tập thể dục thể thao.
Hệ tiêu hóa: gây rối loạn tiêu hóa do rối loạn chức năng co bóp của dạ dày, ruột. Gây ra cảm giác nhanh no sau khi ăn, ăn không ngon, tiêu chảy, táo bón, đầy hơi, buồn nôn, nôn, khó nuốt và ợ hơi. Kích thích đại tiện khi căng thẳng.
Hệ tiết niệu: rối loạn tiết niệu, gây tiểu khó, tiểu không tự chủ, kích thích tiểu tiện khi căng thẳng và tiểu không hết nước tiểu, có thể dẫn đến nhiễm khuẩn đường tiết niệu.
Hệ bài tiết: rối loạn tiết mồ hôi, giảm tiết hoặc tăng tiết quá mức, ảnh hưởng tới khả năng điều tiết nhiệt độ cơ thể, thân nhiệt nóng lạnh bất thường.
Hệ hô hấp: co thắt cơ trơn phế quản gây khó thở, tăng khi thay đổi thời tiết hoặc căng thẳng. Hụt hơi khó thở, tức ngực. Ngạt mũi do giãn cuốn mũi.
Hệ cơ xương khớp: máy giật cơ, buồn bực chân tay, đau nhức xương khớp khi trở trời.
Hệ sinh dục: rối loạn tình dục, bao gồm cả vấn đề đạt được hoặc duy trì sự cương cứng, xuất tinh sớm ở nam giới và khô âm đạo, khó đạt cực khoái ở phụ nữ. Rối loạn kinh nguyệt.
Hệ lông tóc móng: bệnh có thể gây rụng tóc, da khô, hư móng, co giãn mạch ngoài da...
Triệu chứng toàn thân như: mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, đau đầu, ớn lạnh, đau mỏi vai gáy, đau mỏi cột sống, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn lo âu, có bệnh nhân có cảm giác không sống nổi, như sắp chết. Phản ứng sinh học chậm chạp với ánh sáng, gặp khó khăn khi lái xe vào ban đêm.
Phương pháp điều trị
Điều trị RLTKTV chủ yếu là điều trị các nguyên nhân gây bệnh. Việc điều trị triệt để nhằm thiết lập được sự cân bằng trong hệ thần kinh, sự cân bằng giữa hệ giao cảm và phó giao cảm. Tuy nhiên, đến nay, hầu như các nhà chuyên môn mới chỉ điều trị triệu chứng. Các thuốc thường dùng gồm: thuốc an thần, thuốc chống trầm cảm, thuốc chữa mất ngủ và những rối loạn lo âu, thuốc điều chỉnh nhu động ruột; thuốc điều chỉnh cơ thắt bàng quang để chữa rối loạn tiểu tiện; thuốc tim mạch; thuốc làm giảm tiết mồ hôi; Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có thuốc làm tăng tiết mồ hôi đối với trường hợp giảm tiết; thuốc điều trị rối loạn cương dương ở nam giới và thuốc bôi trơn âm đạo cho phụ nữ...
Kết hợp phương pháp vật lý trị liệu: xông hơi thuốc trên huyệt, xoa bóp, bấm huyệt cũng giúp cho kết quả điều trị cao hơn và nhanh khỏi hơn.
Lời khuyên của bác sĩ
Bệnh nhân cần tập suy nghĩ tích cực, duy trì thể dục và lối sống lành mạnh, từ bỏ các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá, thuốc lào, cà phê, trà đặc...
Bệnh nhân cần tập hít thở sâu; xoa vùng trên rốn hàng ngày có giá trị lớn trong phòng và điều trị RLTKTV.
Do tác dụng phụ của một số loại thuốc sử dụng trong điều trị ung thư, thuốc chống trầm cảm và một số thuốc tim mạch có thể gây RLTKTV nên bệnh nhân và người khỏe mạnh không nên tự ý dùng thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Bệnh nhiễm virut và vi khuẩn cũng gây RLTKTV nên mọi người cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh như: rửa tay thường xuyên sau khi tiếp xúc với đồ vật, sau khi lao động; đeo khẩu trang khi ra đường hay ở nơi công cộng; luôn thực hiện ăn chín uống sôi. Tránh các sang chấn tinh thần; không nên thủ dâm quá nhiều...

ThS. Nguyễn Hoàng Lan

Viêm màng não do ký sinh trùng

Có nhiều nguyên nhân gây viêm màng não, thường gặp do vi khuẩn, virut, vi nấm và ký sinh trùng. Tùy nguyên nhân và đường lây mà có biểu hiện lâm sàng khác nhau.
Viêm não, màng não do amip
Amip có ở sông ngòi ao hồ nước ngọt ấm, xâm nhập cơ thể người qua đường mũi trong khi bơi hay ngụp lặn ở đó. Từ mũi, amip đi vào não phá hủy mô não. Bệnh không truyền qua đường uống; không có amip trong nước biển mặn; bệnh không lây từ người sang người.
Biểu hiện: Từ 1 - 7 ngày khi amip xâm nhập, người bệnh thấy đau đầu, sốt, buồn nôn và nôn, cứng cổ. Thời gian muộn hơn: bệnh nhân bị lẫn lộn, thờ ơ với mọi người xung quanh, mất thăng bằng, có các cơn động kinh, ảo giác. Bệnh nặng lên rất nhanh và thường tử vong trong vòng 1 - 12 ngày, dù có điều trị hay không.
Viêm màng não do ký sinh trùng 1
 Chu trình nhiễm giun mạch gây viêm màng não.
Viêm màng não do giun mạch
Giun mạch là nguyên nhân gây viêm màng não hay gặp nhất. Ấu trùng giun mạch có tính ưa thần kinh. Giun mạch ký sinh ở động mạch phổi của chuột nên được gọi là “giun ở phổi chuột”, đẻ trứng trong các động mạch và nở thành các ấu trùng giai đoạn 1. Ấu trùng xuyên qua thành động mạch đi vào phổi và di cư lên các phế quản rồi xuống ruột, thải ra ngoài theo phân. Người là ký chủ tình cờ, bị nhiễm do ăn phải ốc sên chưa nấu chín kỹ mang ấu trùng, hay ăn rau sống có dính chất nhờn do ốc sên hay các loài nhuyễn thể khác tiết ra. Ở ruột người, ấu trùng xuyên qua thành ruột di cư lên não và tủy sống, gây viêm màng não và lên mắt, gây giảm thị lực hay mù mắt. Ở người, trên bề mặt não và tủy sống, ký sinh trùng trở thành ấu trùng giai đoạn cuối nhưng chúng không thể phát triển thành giun trưởng thành như ở chuột.
Viêm màng não do giun đầu gai
Bệnh truyền từ động vật sang người, ấu trùng của giun đầu gai bám lên thành ruột của các động vật như lợn, chó, mèo sau đó được thải ra phân và phát triển thành phôi bào trong môi trường nước. Chúng phát triển trong các ký chủ trung gian như các loại cá, ếch, rắn nước. Người nhiễm bệnh khi ăn các loại thức ăn chế biến từ cá, rắn, gia cầm mang ấu trùng hay uống nước có ấu trùng không được nấu chín. Ấu trùng của giun đầu gai có thể di chuyển dưới da, đi đến các nội tạng, ổ mắt, hệ thần kinh gây viêm màng não.
Viêm màng não do nhiễm giun đũa chó, mèo
Người ăn phải những thức ăn có nhiễm trứng các loại giun này do ruồi làm lây nhiễm, hay do nhiễm trứng giun từ bàn tay khi tiếp xúc với đất nhưng không được rửa sạch trước khi ăn. Trong cơ thể, ấu trùng của giun đũa chó, mèo có thể di cư đến nhiều cơ quan gây bệnh như ngứa da, mù mắt, sưng gan, tràn dịch màng tim, màng phổi, viêm màng não.
Viêm màng não do ký sinh trùng 2
 Nang sán lợn trong “thịt lợn gạo”.
Viêm màng não do nang sán lợn
Người ăn phải thịt lợn gạo còn sống như trong nem chua, hay thịt lợn nấu tái, vào ruột non người ấu trùng phát triển thành sán trưởng thành. Sán lợn trưởng thành ở trong ruột non của người đẻ ra trứng, trứng theo phân ra ngoài, khi lợn ăn vào (lợn là ký chủ trung gian) khi đến ruột lợn, trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng xuyên qua thành ruột đi đến khắp nơi trong cơ thể lợn dưới dạng các nang sán lợn nên thịt những con lợn này, gọi là “thịt lợn gạo”. Khi đó gọi là mắc bệnh sán lợn. Nếu người ăn phải thức ăn chưa được nấu chín bị nhiễm trứng sán từ môi trường bên ngoài thì sẽ dẫn đến bệnh nang sán lợn ở người. Từ trong ruột, các ấu trùng sán sẽ xâm nhập mạch máu và di cư đến khắp nơi gây ra những nốt cứng ở bắp thịt, nhiều nhất là ở mô dưới da, não và mắt. Trường hợp này, người là ký chủ trung gian. Nang sán lợn có thể gây bệnh viêm màng não, tổn thương não gây động kinh, giảm thị lực hay mù mắt...
Dấu hiệu viêm màng não ký sinh trùng
Khi bị viêm màng não do ký sinh trùng, các triệu chứng thường gặp là:  sốt, đau đầu, thường đau nhiều vùng trán, chẩm, hai bên thái dương, đau nhiều về đêm, buồn nôn, nôn, dị cảm tay chân, đau mỏi cổ gáy, đôi khi cứng cổ. Có thể có triệu chứng nhìn đôi do liệt các dây thần kinh vận nhãn, giảm thị lực, yếu tay chân. Trường hợp bệnh diễn tiến nặng, bệnh nhân có thể hôn mê, thậm chí tử vong. Nếu nhiễm giun đầu gai thì bị nổi mẩn da do ấu trùng di chuyển.
Xét nghiệm công thức máu thấy tăng bạch cầu ái toan, chọc dò dịch não tủy thấy tăng bạch cầu ái toan, xét nghiệm phát hiện được kháng thể chống ký sinh trùng trong dịch não tủy. Chụp cộng hưởng từ và chụp cắt lớp vi tính não bộ có thể thấy hình ảnh của viêm màng não. Sinh thiết mô xác định có ký sinh trùng trong các tạng.
Điều trị và phòng bệnh
Bệnh viêm màng não ký sinh trùng cần được chẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt. Thuốc cần dùng là các thuốc điều trị đặc hiệu cho từng loại ký sinh trùng.
Phòng bệnh có thể được thực hiện dễ dàng, hiệu quả và không tốn kém chỉ bằng các biện pháp giản đơn như rửa tay sạch trước khi ăn, thức ăn cần được nấu chín và không để ruồi bu, không để chân tiếp xúc với bùn đất khi làm việc đồng bằng cách đi ủng, đeo xà cạp. Tránh viêm não màng não do amip: hạn chế các hoạt động dưới nước hoặc tắm ở ao, hồ, sông, suối nhiễm bẩn bởi phân rác; nút mũi hoặc dùng clips mũi khi làm việc dưới nước, tránh ngụp lặn tại các nơi nước ngọt ấm và nông. Dùng nước muối sinh lý rửa mũi, súc rửa xoang...            
 

ThS. Trần Minh Thanh

Ðề phòng rối loạn tuần hoàn não

Rối loạn tuần hoàn não là bệnh lý mạch máu não, do nhiều nguyên nhân gây ra. Những bệnh mạn tính như rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, béo phì, nghiện rượu, nghiện thuốc lá, thuốc lào, áp lực công việc... là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh này.
Nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh
Ở người khỏe mạnh, lưu lượng tưới máu não là 55ml máu/100g não/phút. Nếu lưu lượng máu não thấp dưới 20ml/100g/phút thì não sẽ bị thiếu máu, khi đó gọi là rối loạn tuần hoàn não. Hoạt động tim mạch bảo đảm sự tưới máu đầy đủ cho não.
Những yếu tố dẫn đến rối loạn tuần hoàn não gồm các bệnh mạn tính như: tăng huyết áp, xơ cứng mạch não, tình trạng rối loạn mỡ máu, nồng độ đường tăng trong máu, các bệnh van tim, rối loạn nhịp tim, suy thận mạn... Bên cạnh đó, sự thay đổi về thời tiết, khí hậu, thời khắc sinh học... là những yếu tố nguy cơ dẫn đến rối loạn tuần hoàn não. Một số nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, tai biến mạch máu não phát triển nhiều vào tháng 8, tháng 12 và tháng 1 ở đồng bằng sông Cửu Long. Ở Hà Nội thấy tai biến mạch máu não xảy ra vào các tháng 2, 3, 10, 11 có liên quan đến mùa lạnh, gió mùa Đông Bắc. Nghiên cứu cũng cho biết, về thời sinh học, con người có 2 khoảng thời gian dễ gặp rủi ro về tuần hoàn não nhất là vào thời điểm từ 4 - 5 giờ sáng và 5 - 6 giờ chiều. Các yếu tố như thói quen, tập quán sinh hoạt, trình độ văn hóa và bệnh tật ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ mắc bệnh. Trên thực tế có nhiều người không biết trị số huyết áp của mình; số khác lại rất thờ ơ với các biểu hiện đau đầu, mỏi chi... nên không biết cách để phòng tránh rối loạn tuần hoàn não. Người uống nhiều rượu, bia, nghiện thuốc lá, thuốc lào là yếu tố nguy cơ gây rối loạn tuần hoàn não. Những người thừa cân, béo phì, ít vận động dễ bị tăng huyết áp, tiểu đường, tim mạch... cũng tác động xấu đến rối loạn tuần hoàn não. Những người bị căng thẳng, stress cũng dễ mắc bệnh.
Ðề phòng rối loạn tuần hoàn não 1
 Sơ đồ tổn thương rối loạn tuần hoàn não.
Biểu hiện của rối loạn tuần hoàn não
Người bị rối loạn tuần hoàn não hay gọi là thiểu năng tuần hoàn não, ở giai đoạn đầu có thể bù trừ, nếu không được phát hiện và điều trị, thời gian sau chuyển sang giai đoạn mất bù với cơn thiếu máu não thoáng qua. Các dấu hiệu của bệnh bao gồm: mỏi tay chân ở một bên người, có cảm giác tê bì, co giật ở chi, có khi đang nói chuyện người bệnh dừng lại không nói được, hay đột nhiên có người đi ngoài đường không nhớ đường về nhà... Khi đã có những rối loạn này mà không được điều trị sớm, bệnh sẽ tiến triển nặng hơn, nhất là người bệnh có sẵn các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, bệnh tiểu đường, tim mạch...
Trường hợp tai biến mạch máu não là biểu hiện của rối loạn tuần hoàn não cấp tính. Những triệu chứng của tai biến mạch máu não là: đau đầu dữ dội, hôn mê, nôn và buồn nôn, liệt chi, méo tiếng, mất tiếng, xuất huyết não ở các vị trí đặc biệt như chảy máu não thất, chảy máu tiểu não, nhồi máu não... bệnh nhân rất dễ tử vong.
Rối loạn tuần hoàn não mạn tính là tình trạng thiếu máu não mạn tính với các bệnh cảnh sa sút trí tuệ ở người già, đau đầu, chóng mặt... Rối loạn tuần hoàn não còn được phân loại theo vị trí tổn thương như ở vùng não bán cầu, vùng trán, vùng thái dương, vùng chẩm, vùng thân não, tiểu não... Trong các rối loạn tuần hoàn não, ít nhiều đều có phù não, gây ra các rối loạn về tâm lý, như người bệnh dễ nóng giận, buồn vui, hay quên, thậm chí không gọi tên được người thân ngồi trước mặt. Những rối loạn khác có thể gặp là rối loạn thần kinh thực vật như cảm giác nóng bừng bừng, toát mồ hôi, nghẹt thở, lạnh các đầu chi, nổi da gà, rối loạn kích thích, rối loạn đại tiểu tiện... Chẩn đoán bệnh phải dựa vào việc hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng kết hợp với các xét nghiệm thăm dò chức năng thần kinh.
Việc điều trị chủ yếu nhằm tái lập sự cung cấp máu bình thường với đầy đủ ôxy cho não. Thầy thuốc tùy theo loại và mức độ rối loạn tuần hoàn não để chọn thuốc, liều dùng thích hợp để lập lại cân bằng não bị suy giảm. Hiện nay có rất nhiều thuốc có tác dụng tăng cường tuần hoàn não như tanakan, vinpocetin, piracetam, các thuốc Đông y là chế phẩm từ cây ginkgo biloba...
Lời khuyên của bác sĩ
Mọi người cần nhận thức rõ những yếu tố nguy cơ để phòng bệnh, kiểm soát đường máu, tránh các yếu tố gây stress. Đối với người cao tuổi và những người có sẵn nhiều nguy cơ nên khám sức khỏe thường xuyên, thận trọng với những giờ đỉnh của huyết áp nhất là vào buổi sáng.
Khi nghi ngờ bị thiểu năng tuần hoàn não: có đau đầu, chóng mặt, buồn nôn..., cần đi khám bệnh ngay. Hàng ngày cần có chế độ ăn uống hợp lý như ăn nhiều rau, quả, cá, hạn chế ăn thịt, không nên ăn mỡ động vật. Hạn chế đến mức tối đa uống rượu, bia. Nên bỏ thuốc lá hoặc thuốc lào. Tập thể dục đều đặn để ngăn ngừa một số bệnh như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, thừa cân vì các bệnh này gián tiếp làm xuất hiện bệnh thiểu năng tuần hoàn não. Khi đã được chẩn đoán bị thiểu năng tuần hoàn não, cần tuân theo những lời tư vấn của bác sĩ, nhất là chế độ ăn, tập luyện, dùng thuốc. Người cao tuổi không nên tắm nước lạnh, nhất là vào mùa lạnh, nên mặc ấm, nơi nằm ngủ tránh gió lùa. Mùa đông mỗi lúc thức dậy, cần cử động chân tay một lúc mới ngồi dậy, tránh lạnh đột ngột.    

 ThS. Trần Quốc An

Đột quỵ - Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật

Nhân Ngày Đột quỵ thế giới 29/10, GS.TS. Lê Đức Hinh - Chủ tịch Hội Thần kinh học Việt Nam cho biết, ở Việt Nam, cứ 100 trường hợp đột quỵ (tai biến mạch máu não) thì có 75 - 85% trường hợp bị nhồi máu não, 10% chảy máu não... Đáng lưu ý, trong 100 trường hợp bị đột quỵ, có 1/3 trường hợp để lại di chứng. Đột quỵ là một trong các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật (xếp sau ung thư và tim mạch)...
90% bệnh nhân đột quỵ để lại di chứng
Theo GS. Stephen Davis - Chủ tịch Tổ chức Đột quỵ Thế giới, mỗi năm, trên toàn cầu có 16 triệu ca đột quỵ và khoảng 6 triệu ca tử vong. Trên 80% trường hợp đột quỵ xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình như Việt Nam. Ở Việt Nam, cơ sở hạ tầng của đa số các bệnh viện còn thiếu thốn nên việc chẩn đoán, xử trí và quản lý bệnh nhân đột quỵ còn gặp nhiều khó khăn. Kiến thức về đột quỵ của người dân cũng còn hạn chế, không nhận biết được các triệu chứng để kịp thời đưa người bệnh đi cấp cứu. Hậu quả là tỷ lệ bệnh nhân bị di chứng (theo GS.TS. Lê Văn Thính - Trưởng khoa Thần kinh, BV Bạch Mai) chiếm tới 90%.
 
Đột quỵ - Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật 1
 Cấp cứu người bệnh đột quỵ tại BV Bạch Mai. Ảnh: Trần Minh
Đột quỵ có thể do chảy máu não hoặc tắc mạch não. Những người bị chảy máu não, trong 24 giờ đầu tiên có thể bị chảy máu lần 2 và bệnh nặng lên nhanh chóng. Còn với bệnh nhân bị tắc mạch não, cần được đưa đến bệnh viện trong vòng 3 - 4 giờ đầu sau cơn khởi phát để được dùng thuốc tránh tắc mạch. Với phác đồ điều trị tiên tiến hiện nay, nếu bệnh nhân được chuyển đến bệnh viện sớm, sự phục hồi sẽ rất khả quan. Người cao tuổi, bị tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, ít vận động... thì khả năng bị đột quỵ cao.
 
Tuy nhiên, ngay cả các nước tiên tiến nhất như Mỹ, Đức và các nước châu Âu, nơi có các trung tâm đột quỵ rất rộng rãi thì tỷ lệ bệnh nhân được sử dụng thuốc tiêu sợi huyết chỉ khoảng trên dưới 5%. Ở nước ta, theo Đại tá, GS.TS. Nguyễn Văn Thông - nguyên Giám đốc Trung tâm Đột quỵ (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, hiện mới chỉ có khoảng dưới 1% bệnh nhân bị đột quỵ được điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết (tPA) đúng cách khi đến bệnh viện. Kiến thức về "giờ vàng" (3 - 4,5 giờ đầu từ khi khởi phát đột quỵ) đối với bệnh nhân bị đột quỵ không phải ai cũng nắm được. Có nhiều giải pháp bảo vệ dinh dưỡng và kích thích phục hồi thần kinh sau đột quỵ, trong đó giải pháp có bằng chứng về hiệu quả nhất là hoạt chất cerebrolysin. Hoạt chất này thúc đẩy quá trình sinh thần kinh và sự di trú của các tế bào mới được tạo ra đến khu vực bị tổn thương.
Xử trí thế nào khi phát hiện bệnh nhân đột quỵ?
Các chuyên gia y tế nhấn mạnh, xử trí đúng các bệnh đột quỵ sẽ giúp giảm tỉ lệ tử vong; giảm số ngày phải điều trị nội trú và giảm di chứng, tăng cơ hội sống không cần sự giúp đỡ cho người bị đột quỵ. Theo GS.TS. Phạm Gia Khải, đây là bệnh có thể phòng được bằng một chế độ sinh hoạt lành mạnh: ăn uống điều độ, nhiều chất xơ, rau, hoa quả...; ăn ít muối và đường, ít chất béo, tránh hút thuốc hoặc uống rượu; nên tập thể dục hàng ngày. Khi một bệnh nhân đang khỏe mạnh bình thường mà đột ngột xuất hiện 1 trong 5 biểu hiện như sau: đột ngột mất thị lực, đặc biệt là xuất hiện ở một bên mắt; Đau đầu dữ dội (có thể nói đây là cơn đau nhất trong cuộc đời người bệnh) thì chúng ta nên nghi ngờ bệnh nhân đó khả năng bị đột quỵ não cấp. Khi đó, gia đình cần nhanh chóng đưa bệnh nhân vào cơ sở y tế có chuyên môn sâu về điều trị đột quỵ gần nhất để được điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết. Cùng đó, người nhà bệnh nhân cũng cần biết một số thao tác sơ cứu ban đầu như đặt bệnh nhân nằm nghiêng, kiểm tra xem có dị vật trong miệng để tránh tắc đường thở.
 
Điều quan trọng nhất lúc này là đảm bảo chức năng thở cho bệnh nhân, sau đó kiểm tra tim, đo huyết áp..., không nên cho bệnh nhân dùng bất cứ một loại thuốc gì vì đôi khi bệnh nhân có thể sặc và gây suy hô hấp cấp. "Những biện pháp dân gian để sơ cứu ban đầu cho bệnh nhân như xoa dầu và đánh gió hoặc là cho sử dụng một số loại thuốc Đông y không rõ nguồn gốc là thừa. Điều quan trọng nhất là chúng ta phải nhanh chóng đưa bệnh nhân vào viện để được cấp cứu. Đó là cách xử trí ban đầu tốt nhất cho bệnh nhân đột quỵ não cấp", GS. Phạm Gia Khải nhấn mạnh.
 

Các dấu hiệu nhận biết đột quỵ não:
Trong vòng 1 phút, những dấu hiệu xảy ra nhanh chóng như thấy yếu chân, tay, nói líu ríu, mất thăng bằng, cần nghi ngờ người đó bị đột quỵ. Những người có nguy cơ đột quỵ ở tuổi cao: 60 – 65 bị các bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, sinh hoạt không điều độ...
Trong vòng vài giờ sau khi tai biến mạch máu não xảy ra, các triệu chứng đột ngột xuất hiện như:
* Yếu liệt hoặc tê rần ở vùng mặt, tay hoặc chân, đặc biệt là một bên cơ thể.
* Lú lẫn, rối loạn lời nói hoặc hiểu biết (khó tìm từ hoặc không hiểu từ; nói líu ríu, lắp bắp).
* Không nhìn thấy ở một hay cả hai mắt hoặc nhìn một hóa hai.
* Khó khăn khi bước đi hoặc khó phối hợp các động tác.
* Nhức đầu dữ dội mà không biết nguyên nhân. Suy giảm ý thức nhanh chóng. Mất thăng bằng, chóng mặt, nôn...
Trong một số trường hợp, người bệnh vẫn còn tỉnh táo, nhưng đa số bị giảm sút tri giác (như lơ mơ, ngủ gà, có thể hôn mê). Bệnh nhân có thể liệt nửa người, liệt mặt và các cơ hầu họng (gây nuốt khó, sặc khi ăn uống, nói khó), tiêu tiểu không tự chủ.
(Theo GS.TS. Lê Đức Hinh - Chủ tịch Hội Thần kinh học Việt Nam)

Chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt tại nhà

Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh mạn tính, tiến triển từ từ, theo từng giai đoạn do vậy cần phải điều trị và theo dõi lâu dài, có thể vài năm, thậm chí có thể cả cuộc đời. Ðiều trị tại nhà thường tiếp diễn sau khi bệnh nhân có một thời gian điều trị giai đoạn cấp tại bệnh viện. Nhân viên y tế thôn bản cần hướng dẫn người nhà biết cách chăm sóc bệnh nhân đúng cách.
Ai có thể điều trị tại nhà?
Các bệnh nhân sau khi được điều trị ổn định tại bệnh viện, phần nào đã thích ứng được với đời sống tại gia đình, xã hội: có thể tự chăm sóc vệ sinh cá nhân, làm được một số công việc hàng ngày, tuân thủ điều trị, chịu uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Khi người bệnh không có các biểu hiện cần chỉ định vào viện như: kích động, tự sát, không chịu ăn, hoang tưởng, ảo giác nặng hoặc có các hành vi nguy hiểm đến tính mạng của chính bản thân hoặc những người xung quanh.
Chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt tại nhà 1
 Ảnh nguồn google.
Làm gì để chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt?
Ðể việc điều trị tại nhà có hiệu quả cần có sự phối hợp giữa người thân và bác sĩ. Do vậy gia đình bệnh nhân cần nâng cao kiến thức, hiểu biết về bệnh tâm thần phân liệt và cách chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt. Các thông tin này có thể lấy từ sách, báo hoặc tham gia các lớp tập huấn về chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt do các bác sĩ chuyên khoa tâm thần phụ trách.
Biết cách theo dõi bệnh nhân: bao gồm theo dõi về diễn biến bệnh, theo dõi các triệu chứng về thuốc và các triệu chứng khác. Gia đình bệnh nhân nên có một cuốn sổ để ghi lại các diễn biến của bệnh phát hiện sớm các dấu hiệu tái phát bệnh như: thay đổi tính cách (dễ cáu giận, bực bội...); thay đổi trong nền nếp sinh hoạt; ngủ kém hoặc mất ngủ; cảm giác xung quanh thay đổi... để liên hệ ngay với bác sĩ điều trị hoặc đưa người bệnh đến cơ sở chuyên khoa tâm thần khám và điều chỉnh liều thuốc. Theo dõi sát bệnh nhân để kịp thời phát hiện các triệu chứng nặng như: kích động, tự sát, không chịu ăn... để có thể đưa bệnh nhân vào viện kịp thời.
Quản lý thuốc chặt chẽ, cho bệnh nhân uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ, tuyệt đối không tự ý điều chỉnh thuốc và liều thuốc. Yêu cầu bệnh nhân uống thuốc khi có mặt của người thân vì bệnh nhân tâm thần phân liệt hay từ chối điều trị, một số bệnh nhân cho rằng đã khỏi bệnh hoặc cho rằng thuốc độc nên giấu thuốc, không chịu uống; không cho bệnh nhân giữ hoặc biết nơi để thuốc vì bệnh nhân có thể uống quá liều gây ngộ độc.
Thường xuyên cho bệnh nhân khám định kỳ, thông thường có thể 2 tuần, 3 tuần hoặc 1 tháng một lần tùy theo thể bệnh (khi đến khám bệnh cần mang tất cả các tài liệu liên quan đến quá trình bệnh của bệnh nhân).
Theo dõi các biểu hiện bất thường về cơ thể như: sốt, mệt mỏi, ho, các vết thương, chấn thương (do bệnh nhân có thể tự gây thương tích cho mình), các bệnh lý cơ thể khác để kịp thời điều trị. Ðộng viên, giúp đỡ và có thái độ cư xử tôn trọng người bệnh. Giúp đỡ, huấn luyện người bệnh làm các công việc hàng ngày, tạo điều kiện cho người bệnh được giao tiếp xã hội, được làm việc.

BS. Hoàng Nam

Suy giảm trí nhớ

Quá trình phát triển của hệ thần kinh bắt đầu từ trong phôi thai và đến năm 25 tuổi thì hoàn chỉnh. Sau lứa tuổi này, mỗi ngày có khoảng 3.000 nơron thần kinh bị hủy đi mà không có sự sinh sản thêm. Càng lớn tuổi, cơ thể càng ít tạo ra các chất trung gian cần thiết cho não hoạt động. Vì vậy, từ tuổi trung niên, bạn đã có thể bị suy giảm trí nhớ.
Theo các nhà chuyên môn, có hai loại suy giảm trí nhớ với các biểu hiện sau:
Suy giảm trí nhớ do tuổi: Khó nhớ tên người mới gặp, quên một việc vừa dự định làm. Những kinh nghiệm và kiến thức ít bị ảnh hưởng. Bệnh nhân vẫn nhớ được những sự kiện đã xảy ra từ rất lâu.
Suy giảm trí nhớ do bệnh lý: Quên cách sử dụng những đồ vật đã từng dùng rất thường xuyên, gặp nhiều khó khăn khi tiếp nhận các thông tin mới; hay lặp lại một câu hoặc câu chuyện trong cùng buổi trò chuyện. Bệnh nhân gặp khó khăn trong việc giữ tiền và không thể giữ nếp sống sinh hoạt thường ngày.
Suy giảm trí nhớ 1
 Cần thường xuyên hoạt động trí não để hạn chế chứng suy giảm trí nhớ.
(Ảnh minh họa)
Ở hình thức nhẹ, bệnh nhân có biểu hiện than phiền về tính đãng trí của mình, trí nhớ có giảm so với tuổi mặc dù nhận thức và hoạt động đời sống vẫn bình thường. Ở mức này, người bệnh không sa sút về trí tuệ.
Khoảng 50% số người suy giảm trí nhớ sẽ chuyển thành bệnh sa sút trí tuệ. Đây là tình trạng suy giảm mức trí tuệ đã đạt được từ trước. Bệnh nhân sẽ bị giảm trí nhớ, giảm khả năng xét đoán, định hướng không gian và thời gian, ngôn ngữ, tư duy nhận thức, hành động; ảnh hưởng nặng nề đến chức năng và chất lượng cuộc sống.
Để đối phó với tình trạng suy giảm trí nhớ, phải thường xuyên hoạt động trí não, sống trật tự, có phương pháp, việc nào ra việc ấy, luôn đọc sách, giao tiếp xã hội, luyện trí nhớ... Tập thể dục thường xuyên cũng là một cách tốt để duy trì khả năng tư duy vì nó thúc đẩy tuần hoàn, hô hấp, giúp tăng cường cung cấp ôxy và dinh dưỡng cho não.
Trong thực đơn hàng ngày, nên tránh uống rượu vì rượu làm tăng nguy cơ nhũn não. Để duy trì trí nhớ, người cao tuổi còn phải thực hiện một chế độ dinh dưỡng đa dạng, giàu chất sắt và các nguyên tố vi lượng cần thiết như phốt pho, kẽm, vitamin nhóm B, các loại dầu thực vật. Giới trẻ nên tăng khẩu phần đạm trong bữa ăn (khoảng 300g/ngày) lấy từ thịt, cá, trứng, sữa... để "chăm sóc" cho các nơron thần kinh. Các loại đậu, vừng, trứng chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho trí não.
Bệnh nhân suy giảm trí nhớ do tuổi tác không phải dùng thuốc vì đây là một tiến trình tự nhiên của lão hóa. Cần áp dụng một số biện pháp giảm ảnh hưởng của suy giảm trí nhớ trong sinh hoạt, đồng thời rèn luyện hoạt động trí não: Liệt kê danh sách những việc cần làm, lập thời gian biểu cho công việc hằng ngày để có một cuộc sống ngăn nắp, nề nếp, xây dựng những nguyên tắc trong sinh hoạt.
Với những bệnh nhân bị suy giảm trí nhớ do bệnh lý, cần điều trị theo sự hướng dẫn của các bác sĩ chuyên khoa với các loại thuốc hỗ trợ thần kinh, thuốc ức chế men acetylcholinesterase để quá trình nhớ trở nên dễ dàng hơn.

BS. Hạnh Trinh

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons