Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

Cách nhận biết viêm động mạch khu trú thái dương

Horton là bệnh viêm động mạch khu trú chủ yếu ở động mạch thái dương nông. Đây là loại bệnh có nguy cơ gây nguy hiểm đối với thị giác, song nếu ta triển khai điều trị một cách kịp thời và đúng phương pháp thì có thể loại trừ được nguy cơ nguy hiểm này.
Nguyên nhân gây bệnh Horton
Có nhiều thuyết khác nhau về bệnh Horton: Horton và Frangenheim cho rằng, bệnh do vi khuẩn đặc hiệu nên xếp vào nhóm bệnh u hạt nhiễm khuẩn (granulome infecteeusr); Zeek, Morrison Abithol cho là dị ứng quá mẫn nên xếp vào nhóm những bệnh mạch máu do dị ứng; Miehlke lại xếp vào nhóm bệnh tạo keo. Gần đây, Sauerruch, Dorstelman... thiên về giả thiết Horton là bệnh tự miễn; một số tác giả cho là di truyền, do virut viêm gan B và Treponema pallidum.
Cơ chế gây bệnh chưa được xác định rõ nhưng nhiều giả thuyết đã thừa nhận yếu tố di truyền theo gen và cơ chế tự miễn dịch thông qua một số xét nghiệm đặc hiệu; Do hiện tượng tự miễn dịch làm viêm lớp chun trong của nhiều động mạch, đặc biệt là động mạch thái dương nông và các nhánh của động mạch cảnh ngoài.
Một số biểu hiện bệnh
Bệnh khởi phát và tiến triển kín đáo. Các triệu chứng về mắt gặp nhiều theo thứ tự là: phù nề gai thị; tắc động mạch võng mạc trung tâm; nhìn đôi; thị trường thu hẹp; ám điểm trung tâm, đau hố mắt. Kèm theo các biểu hiện: nhức đầu, đau cơ khớp, đau vùng thắt lưng, cơ đai vai; sốt; hội chứng thiếu máu...
Cách nhận biết viêm động mạch khu trú thái dương 1
Hình ảnh viêm động mạch thái dương.
Đau đầu, nhất là ở vùng thái dương: đau đầu là triệu chứng nổi bật nhất, điển hình là đau ở vùng thái dương, thường là đau một bên, đôi khi cả hai bên. Cơn đau xuất hiện một cách tự nhiên hay do một kích thích dù chỉ là rất nhẹ vào da đầu như chải đầu, đeo kính, gội đầu... Ðau có tính chất dai dẳng, cảm giác tê buốt như kim châm dưới da đầu, từ vị trí khởi điểm ở thái dương đau có thể lan ra cả vùng trán, hốc mắt hoặc đỉnh chẩm cùng bên, đau tăng lên khi lạnh, đau nhiều về đêm làm bệnh nhân mất ngủ. Thỉnh thoảng có những cơn đau kịch phát dữ dội như khoan, dùi ở vùng thái dương làm người bệnh không chịu nổi phải lấy tay ôm đầu vật vã, kêu la, mỗi cơn đau kịch phát này kéo dài 2 - 3 giờ, trung bình 1 - 2 cơn/ngày. Quan sát thấy vùng thái dương của bệnh nhân hơi sưng nề, da đỏ, sờ vào nóng hơn các vùng khác, đồng thời có cảm giác thấy một đoạn mạch máu dày, cứng, ngoằn ngoèo, mạch đập yếu hoặc không đập, ấn rất đau. Đau tăng lên khi lạnh, đau nhiều về đêm làm bệnh nhân mất ngủ.
Tất cả những triệu chứng trên là biểu hiện của viêm động mạch thái dương nông, tuy nhiên ở đầu ngoài động mạch thái dương bị tổn thương thì một số động mạch khác như động mạch mắt, chẩm và động mạch mặt cũng bị viêm làm cho bệnh nhân đau.
Tổn thương động mạch mắt, chẩm và đặc biệt là động mạch mặt cũng bị viêm gây thiếu máu cục bộ ở những cơ nhai làm cho bệnh nhân đau nhiều khi nhai, giảm hoặc hết đau khi ngừng nhai. Người ta gọi đây là triệu chứng khập khễnh của hàm. Ngoài ra, một số bệnh nhân còn đau cả lưỡi, họng, nuốt, nói khó do tổn thương những động mạch chi phối vùng đó.
Triệu chứng ở mắt: những biểu hiện thường gặp là sợ ánh sáng, nhìn đôi, lác mắt (do liệt cơ vận nhãn), mù thoảng qua, màn sương mù trước mắt, ảo thị, rối loạn thị trường... và cuối cùng là mù hẳn. Những biến chứng này có thể xuất hiện đột ngột, tiến triển nhanh, không hồi phục làm mất thị lực chỉ trong vòng vài giờ đến vài ngày nếu không được điều trị kịp thời.
Mất ngủ, chán ăn, gầy sút và sốt, đôi khi hâm hấp sốt, có khi sốt rất cao. Suy nhược, chán ăn, gầy sút.
Giả viêm đa khớp gốc chi: có dấu hiệu thâm nhiễm viêm ở những cơ đai, nhất là đai vai: đau cân đối hai bên, có khi bệnh nhân phải nằm liệt giường nhưng không hạn chế vận động các khớp và không có tổn thương xương khớp trên hình ảnh Xquang; rất nhạy cảm với những thuốc chống viêm corticoid và không corticoid.
Một số bệnh nhân chỉ có duy nhất một triệu chứng sốt đơn độc kéo dài mà không tìm thấy nguyên nhân gì. Một số trường hợp khác lại có biểu hiện giả viêm đa khớp gốc chi, người bệnh đau nhiều khớp, đặc biệt là đau khớp vai hai bên, song không bị hạn chế vận động khớp, những dấu hiệu viêm khớp này thường xuất hiện trước hoặc đi kèm theo triệu chứng đau đầu.
Các triệu chứng khác ít gặp và dễ nhầm với các bệnh khác như: nhồi máu não, viêm dây thần kinh, phồng động mạch chủ, thiểu năng động mạch chủ hay động mạch vành; bệnh phế quản, phổi; viêm động mạch ngoài sọ và trong sọ, viêm động mạch ở các chi. Bệnh Horton dễ bị bỏ sót ở các thể bệnh như: toàn thân suy sụp dần; sốt đơn thuần kéo dài; đi khập khiễng cách hồi; cơn đau thắt hay tai biến thiếu máu cục bộ ở những cơ quan do ngành lớn hay thân động mạch chủ chi phối.
Tuy nhiên, để chẩn đoán chính xác bệnh Horton ở NCT thì cần phải làm thêm một số xét nghiệm như máu lắng tăng, rối loạn đông máu, rối loạn miễn dịch và đặc biệt là sinh thiết động mạch thái dương có chọn lọc dựa trên siêu âm Doppler hoặc chụp động mạch cảnh ngoài để kết quả chính xác hơn.
Điều trị bệnh càng sớm càng tránh được nhiều biến chứng
 Điều trị bệnh Horton, thuốc corticoid (như prednison, solu-medrol) là biện pháp điều trị duy nhất có hiệu quả, điều trị bằng corticoid càng sớm thì càng tránh được những biến chứng về mắt cho NCT, có thể nói khi người thầy thuốc đã nghi ngờ là bệnh Horton thì không cần chờ kết quả sinh thiết động mạch thái dương nữa mà nên điều trị corticoid ngay cho bệnh nhân.
Liệu pháp corticoid là biện pháp điều trị duy nhất có hiệu quả. Những biến chứng nguy hiểm của bệnh Horton có thể tránh được nếu bắt đầu điều trị nhanh, coi như cấp cứu khi đã xuất hiện những tổn thương về mắt. Chỉ khi nào thị lực mới mất một phần thì liệu pháp corticoid còn có khả năng hồi phục thị lực, nhưng đã mất hoàn toàn thị lực thì không hồi phục.
Hiệu quả điều trị có tác dụng ngay, giảm sốt, giảm đau trong ngày; viêm nhiễm giảm dần và tốc độ lắng hồng cầu trở lại bình thường trong 1 - 2 tháng. Phải dùng corticoid hằng ngày, một lần vào buổi sáng, còn nếu dùng cách nhật kém hiệu quả.
Trong một số trường hợp, người ta có thể dùng một vài thuốc khác như dapson hoặc thuốc chống viêm non-steroid kết hợp với corticoid trong giai đoạn điều trị củng cố. Ngoài ra, nếu có viêm các động mạch lớn thì phải dùng cả thuốc chống đông để dự phòng huyết khối. Tuy nhiên, không được tự ý dùng thuốc corticoid mà phải dùng theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa.    
   BS. Nguyễn Anh Tuấn

Ðau thần kinh hông có phòng được không?

Đau thần kinh hông (thần kinh tọa) thường gặp khá nhiều trong cộng đồng, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới (nữ giới chỉ gặp 1/3). Bệnh gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh hoạt, lao động, thậm chí gây tàn phế. Tuy vậy, bệnh đau thần kinh hông cũng có thể phòng ngừa nếu được quan tâm đúng mức.
Một số nguyên nhân thường gặp gây đau thần kinh hông
Tuổi từ 30 – 60 dễ gặp đau dây thần kinh hông. Đau dây thần kinh hông chủ yếu là đau rễ thần kinh thắt lưng 5 và rễ thần kinh cùng 1. Đau thần kinh hông liên quan mật thiết với tủy sống. Về mặt cấu tạo thì tủy sống nằm trong ống sống. Dọc theo cột sống thì mỗi đoạn tủy sống có một đôi rễ thần kinh tương ứng đi ra khỏi ống sống (mỗi bên một rễ thần kinh). Đôi rễ thần kinh này có chức năng chi phối vận động và chi phối cảm giác từng bộ phận của cơ thể. Đôi rễ thần kinh của thắt lưng số 5 và cùng 1 được gọi là thần kinh hông (thần kinh tọa).
Ðau thần kinh hông có phòng được không? 1
Đường đi của thần kinh hông to (thần kinh tọa).

Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây đau thần kinh hông, bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Nhưng nguyên nhân xuất phát từ cột sống thắt lưng chiếm tỷ lệ cao hơn cả, trong đó thoát vị đĩa đệm đóng vai trò chủ yếu. Nghiên cứu cho thấy thoát vị đĩa đệm gây nên đau thần kinh hông chiếm tỷ lệ rất cao (từ 60 – 90%). Đĩa đệm là phần cấu trúc không xương nằm giữa 2 đốt sống, được cấu tạo bởi các sợi rất chắc bao bọc xung quanh và ở giữa là nhân nhày. Đĩa đệm có tác dụng làm “giảm xóc” khi có lực nén tác động vào cột sống (từ trên xuống hoặc từ dưới lên). Khi lực tác động mạnh, đột ngột lên đĩa đệm thì làm cho các vòng sợi có thể bị rách và nhân nhày bị đẩy ra ngoài, chui vào ống sống hoặc chui vào vị trí thoát ra của rễ thần kinh thắt lưng số 5 và cùng 1 làm chèn ép rễ thần kinh và gây đau. Ở người đang độ tuổi lao động, khi làm việc nặng, quá sức, sai tư thế rất có thể bị tổn thương đĩa đệm.
Tổn thương đĩa đệm thường xảy ra cấp tính. Ở người tuổi xế chiều, đau thần kinh hông thường do thoái hóa đĩa đệm cho nên  thường xảy ra mạn tính và hay tái phát. Đau thần kinh hông cũng có thể do có sự biến đổi bất thường ở đốt sống thắt lưng như trượt đốt sống số 5 do cơ học (bưng bê không cân xứng, mang vác nặng) hoặc do đốt sống thắt lưng đã hoặc đang thoái hóa. Đau thần kinh hông cũng có thể do u xương sống, nhiễm khuẩn (lao cột sống, viêm do tụ cầu...), viêm khớp cùng chậu, ung thư ở cơ quan khác di căn đến. Đau thần kinh hông cũng có thể do viêm đốt sống thắt lưng, viêm cột sống dính khớp làm thu hẹp ống sống thắt lưng gây chèn ép rễ thần kinh và có thể gây nên hội chứng “đuôi ngựa”. Viêm cột sống dính khớp thường gặp ở tuổi trung niên (dưới 40 tuổi), biểu hiện là đau âm ỉ thắt lưng, mông, đau nhiều về đêm và buổi sáng, thường có biểu hiện cứng khớp cột sống thắt lưng làm hạn chế vận động.
Ngoài ra, người ta cũng thấy đau thần kinh hông có thể có liên quan đến chấn thương trực tiếp vào dây thần kinh hông như bị gãy xương chậu hoặc bị tiêm trực tiếp vào thần kinh hông (tiêm mông sai kỹ thuật) hoặc do một loại thuốc dầu được tiêm mông rồi thuốc khuếch tán đến thần kinh hông hay do loãng xương gây thoái hóa khớp.
Biểu hiện của đau thần kinh hông
Đau thần kinh hông dọc theo đường đi của dây thần kinh, vì vậy, triệu chứng đau rất điển hình. Trước tiên là đau thắt lưng, sau đó đau lan xuống mông, đến mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, rồi lan xuống mặt trước mắt cá ngoài, mu bàn chân và vắt ngang qua ngón cái. Nếu tổn thương ở đốt sống thắt lưng số 5 thì đau ở vùng thắt lưng. Cơn đau thường tự nhiên, bột phát, liên tục nhưng có trường hợp đau cấp tính như dao đâm. Điển hình nhất của cơn đau là xuất hiện khi gắng sức cúi xuống để nâng một vật nặng bỗng thấy đau nhói ở thắt lưng, bắt buộc phải ngừng công việc. Sau một vài giờ, tuy không làm việc nặng nữa nhưng lưng vẫn bị đau và có trường hợp vài ba ngày sau đó lưng vẫn còn tiếp tục đau. Đau tăng lên và lan dọc theo dây thần kinh hông, nhất là khi ho, hắt xì hơi hoặc lúc rặn để đại, tiểu tiện. Cơn đau có thể giảm khi nằm nghỉ, nhất là được nằm trên mặt giường cứng.
Ngoài ra, cũng có thể thấy có cảm giác đau như kiến bò, tê cóng hoặc như kim châm ở bờ ngoài bàn chân, bắt chéo qua mu bàn chân và ngón cái hoặc ngón út bàn chân. Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của ngành khoa học y học mà việc chẩn đoán đau dây thần kinh hông có nhiều thuận lợi hơn như chụp bao rễ thần kinh, chụp cắt lớp vi tính (chụp CT) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI). Đau thần kinh hông nếu không được chữa trị nghiêm túc sẽ ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, sức lao động, lâu dần sẽ bị teo cơ và có thể gây tàn phế. 
Cách phòng bệnh
Ngoài 30 tuổi, (nam và nữ) nên theo dõi mật độ xương định kỳ  nhằm phát hiện sớm hiện tượng loãng xương gây thoái hóa khớp, đặc biệt là người lao động chân tay hoặc người phải ngồi lâu, nhiều giờ trong 1 ngày và kéo dài nhiều tháng, nhiều năm. Hàng ngày, nên tập thể dục đều đặn để khí huyết lưu thông, thuận lợi cho việc nuôi dưỡng các cơ quan và các khớp xương. Cần có các động tác tập các khớp xương thích hợp, nhẹ nhàng, uyển chuyển, ví dụ như các động tác tập thể dục buổi sáng. Những người phải thường xuyên mang vác nặng cần thao tác đúng tư thế, tránh để xảy ra hiện tượng chấn thương lồi đĩa đệm hoặc trật, trượt khớp đốt sống. Khi bị thoái hóa cột sống thắt lưng, viêm khớp cùng chậu, cần điều trị tích cực đúng theo chỉ định của thầy thuốc, đặc biệt là bác sĩ chuyên khoa khớp. Người bị đau thần kinh hông cần điều trị tích cực theo chỉ định của bác sĩ để tránh bệnh trở thành mạn tính, thậm chí gây biến chứng teo cơ, tàn phế. Ngoài ra, cần ăn uống đủ chất và bổ sung lượng canxi cần thiết khi có ý kiến của bác sĩ khám bệnh cho mình.
PGS.Ts.TTƯT. Bùi Khắc Hậu

Liệt toàn thân sau sốt: Coi chừng bệnh trọng

LTS: Vừa qua, Khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện E Trung ương đã điều trị thành công một bệnh nhân nữ sau khi mổ thay van tim mắc hội chứng Guillain - Barré khiến bệnh nhân liệt toàn thân và liệt các cơ hô hấp, buộc phải thở máy liên tục trong 2 năm rưỡi kết hợp cùng các biện pháp chăm sóc và điều trị tích cực. Vậy hội chứng Guillain - Barré là gì và nguy hiểm thế nào? Bài viết dưới đây của TS.BS. Vũ Đức Định sẽ cung cấp cho độc giả những thông tin cần thiết về bệnh lý này.
Hội chứng Guillain - Barré hay còn được gọi là liệt Landry, hội chứng Guillain - Barré - Strohl, là một tổn thương cấp tính của các rễ, các dây thần kinh ngoại biên (viêm đa rễ - đa dây thần kinh) do nhiều nguyên nhân gây ra. 
Bình thường, xung động thần kinh được dẫn truyền từ não xuống tủy sống (phần thần kinh trung ương), qua các dây thần kinh sọ và các rễ thần kinh xuất phát từ tủy sống (phần thần kinh ngoại biên) để tới kích thích các cơ hoạt động và nhận cảm giác phản hồi. Khi các rễ và các dây thần kinh ngoại biên bị tổn thương, các xung động truyền từ trên xuống bị đình trệ dẫn tới hiện tượng yếu cơ, liệt cơ, đồng thời việc truyền cảm giác từ bề mặt da, theo các dây và rễ thần kinh ngược về não bộ cũng bị gián đoạn nên gây rối loạn cảm giác.
Liệt toàn thân sau sốt: Coi chừng bệnh trọng 1Hội chứng Guillain - Barré là tổn thương cấp tính các rễ, các dây thần kinh ngoại biên.

Nguyên nhân nào gây nên?
Cho đến nay, người ta cho rằng hội chứng Guillain - Barré (GB) có tổn thương là do cơ chế tự miễn dịch. Sau sự xuất hiện của tác nhân gây bệnh (hay các kháng nguyên) trong máu, cơ thể sẽ sinh ra các kháng thể để tiêu diệt kháng nguyên. Trong hội chứng GB, kháng thể của cơ thể có sự “nhầm lẫn” giữa sợi trục cũng như lớp vỏ myelin của các sợi rễ và dây thần kinh nên đã “đánh nhầm” và làm tổn thương các phần cấu trúc này (với ước tính khoảng 20% các trường hợp có tổn thương sợi trục và 80% có tổn thương lớp vỏ myelin). Kết quả là các rễ và dây thần kinh bị “hỏng” nên gây triệu chứng về vận động và cảm giác.
Các tác nhân gây bệnh hay các kháng nguyên trong hội chứng GB bao gồm các nhóm vi khuẩn như Campylobacter jejuni; virut như Cytomegalovirus (CMV), influenza virus... Một số trường hợp, hội chứng GB cũng được cho là có liên quan đến sau dùng một số loại thuốc, hóa chất và có tới 60% các ca là không rõ nguyên nhân khởi phát.
Hội chứng Guillain - Barré chỉ gặp với tần suất 1 - 4 trường hợp/100.000 dân/năm; nam gặp nhiều hơn nữ nhưng lại là một trong những bệnh lý gây liệt hàng đầu có nguyên nhân không do chấn thương. Bệnh được Jean Landry, một bác sĩ người Pháp mô tả lần đầu tiên vào năm 1859 và tới năm 1916, BS. Georges Guillain, Jean Alexandrer Barré và André Strohl, lần đầu tiên đã mô tả đầy đủ căn bệnh mà sau này mang tên các ông.
Biểu hiện của hội chứng Guillain - Barré
Đặc điểm cơ bản của hội chứng GB là liệt ngoại biên có tính chất lan lên (từ các đầu chi đến các cơ toàn thân) và rối loạn cảm giác. Thông thường, sau một trận sốt virut hoặc sau một nhiễm khuẩn (như viêm đường hô hấp trên), bệnh nhân thấy cảm giác tê đầu chi như kiến bò, sau đó khó cử động tay, chân. Một số bệnh nhân có các dấu hiệu liệt dây thần kinh sọ xuất hiện đầu tiên như liệt hầu họng làm bệnh nhân nói khó, nuốt sặc, liệt mặt ngoại biên, liệt cơ vận nhãn khiến bệnh nhân có biểu hiện nhìn đôi, lác trong, lác ngoài. Các rối loạn vận động xuất hiện từ đầu các chi, sau đó gây liệt chi và lan nhanh lên phía trên gây liệt toàn thân, trong đó có liệt các cơ hô hấp (cơ liên sườn, cơ hoành, cơ ức đòn chũm, cơ thang). Liệt các cơ hô hấp khiến cho bệnh nhân bị suy hô hấp và đây cũng là biểu hiện nguy hiểm nhất và là mục tiêu điều trị đầu tiên. Theo thống kê, khoảng 30% các trường hợp GB có liệt cơ hô hấp nặng đòi hỏi phải thở máy. Liệt trong hội chứng GB là liệt mềm, mất hoàn toàn phản xạ gân xương và chỉ một số ít các ca có xuất hiện các phản xạ bệnh lý. Mất cảm giác là triệu chứng thường gặp với biểu hiện mất hoàn toàn cảm giác đau (cấu véo bệnh nhân không có cảm giác) trong khi các cảm giác về nóng lạnh ít rối loạn hơn. Đau cơ cũng hay có trong GB và một số ca có mô tả là có đau như rút giữa cột sống. Ở một số ca GB nặng, có thể có các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật kèm theo như rối loạn thân nhiệt, tụt huyết áp tư thế và nhịp tim chậm. Xét nghiệm dịch não tủy có thể thấy protein tăng nhưng các tế bào viêm không tăng (hiện tượng phân ly đạm - tế bào).
Điều trị được không?
Điều trị hội chứng GB gồm các giai đoạn: giai đoạn điều trị đặc hiệu để phục hồi liệt vận động càng sớm càng tốt, chăm sóc chống bội nhiễm, đảm bảo dinh dưỡng và tiến hành phục hồi chức năng sớm. Trước kia, khi chưa có biện pháp loại bỏ nhanh các phức hợp kháng nguyên - kháng thể, các kháng nguyên trong máu (bằng thay huyết tương) và trung hòa kháng nguyên gây bệnh bằng truyền immunoglobulins, việc điều trị bệnh nhân GB thực sự là một cơn ác mộng do bệnh nhân bị liệt toàn thân, phải thở máy kéo dài, có bệnh nhân phải thở máy tới hơn hai năm trời, cơ hô hấp mới hồi phục và bệnh nhân mới tự thở được. Việc một bệnh nhân nằm lâu tại giường và phải thở máy kéo dài như vậy sẽ dẫn tới rất nhiều hệ lụy như teo cơ, cứng khớp, viêm phổi, viêm đường tiết niệu, nhiễm khuẩn, loét mục...  nếu không được chăm sóc tốt. Hiện nay, trước một bệnh nhân GB, vấn đề đầu tiên là xem xét can thiệp cho thở máy sớm nếu có liệt các cơ hô hấp, sau đó tiến hành thay huyết tương tại giường. Máu toàn phần của bệnh nhân sẽ được rút ra ngoài theo đường tĩnh mạch, đi qua bộ phận lọc của máy. Tại đây, các thành phần hữu hình của máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) sẽ được giữ lại và bơm trở lại cơ thể. Phần huyết tương của bệnh nhân (có các yếu tố gây bệnh) sẽ được loại bỏ và được thay bằng một lượng huyết tương với thể tích tương đương của người cho. Có thể nói, biện pháp này hiện nay đang cho kết quả rất tốt, bệnh nhân cử động ngay được trong quá trình thay huyết tương. Nếu không thay huyết tương, truyền tĩnh mạch immunoglobulins cũng là một lựa chọn tốt với hiệu quả tương đương. Tuy vậy, cả hai biện pháp này chỉ có hiệu quả tốt nhất trong tuần đầu, tối đa là khoảng 2 tuần đầu sau khởi phát bệnh. Corticoid chưa chứng minh được hiệu quả trong việc điều trị bệnh. Các biện pháp phối hợp bao gồm chăm sóc, dinh dưỡng, chống nhiễm khuẩn và luyện tập phục hồi chức năng sớm.
TS.BS. Vũ Đức Định

Xua đi nỗi sợ “bóng đè”

Trong giấc ngủ dù ban ngày hay ban đêm, bạn đang trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê hoặc tâm trí bạn hoàn toàn tỉnh táo, nhưng lại không thể cử động được. Lúc đó, bạn có cảm giác rất sợ hãi, nhưng cũng không thể mở miệng kêu cứu được. Hiện tượng này được dân gian gọi nôm na là bị bóng đè. Bóng đè có thể khiến bạn hoảng hốt, nhất là khi bạn nghe hoặc thấy những âm thanh không có thật (ảo giác) hay một bóng người trong phòng ngủ của bạn. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn những hiểu biết để xua đi nỗi sợ bị bóng đè.
Ai dễ bị bóng đè?
Nhiều nghiên cứu cho thấy bóng đè thường xảy ra khi hormon trong cơ thể được tiết ra để ngăn cản giấc mơ tiếp tục khi bạn thức dậy. Lúc đó, tuy ý thức của bạn đã hoàn toàn tỉnh táo, nhưng bạn có cảm giác tê liệt và bị bóng đè. Muốn hiểu về nguyên nhân gây bóng đè, chúng ta cần biết: điều gì đã xảy ra trong khi ta đang ngủ. Nghiên cứu cho biết: giấc ngủ diễn ra theo chu kì, mỗi chu kì được chia làm 2 pha: pha ngủ nhanh (hay pha cử động mắt nhanh) và pha ngủ chậm. Não bộ hoạt động rất mạnh trong pha ngủ nhanh và hầu hết các giấc mơ thường xuất hiện trong pha ngủ nhanh. Trong suốt pha ngủ nhanh, toàn bộ cơ thể được hormon chi phối để bất động, ngoại trừ mắt và cơ hoành. Sự bất động này được cho là để bảo vệ cơ thể khỏi phải hành động theo những hoạt động bạn đang mơ. Hiện tượng bóng đè xảy ra khi sự bất động cơ thể trong pha ngủ nhanh vẫn tiếp tục duy trì, trong khi não bộ đã “thức giấc” rồi.
Những người dễ bị bòng đè là:  lứa tuổi thanh thiếu niên và người trẻ; người bị thiếu ngủ; người ngủ không theo một thời gian biểu hợp lý, ngủ không theo một giờ giấc nhất định, những người làm việc theo ca thường dễ bị bóng đè; người bị mắc chứng ngủ rũ do loại rối loạn giấc ngủ khiến cho người bệnh thường ngủ gật vào những thời điểm không phù hợp ban ngày; tiền sử gia đình: nếu trong gia đình có bố, mẹ hay anh chị hay bị bóng đè thì bạn cũng dễ bị bóng đè.
Xua đi nỗi sợ  “bóng đè” 1
 Bóng đè thường xuất hiện khi bạn sắp thức giấc hoặc xuất hiện ngay khi bạn vừa mới ngủ.
Biểu hiện của bóng đè
Hiện tượng bóng đè có thể xuất hiện chỉ 1 lần hoặc thường xuyên, thậm chí nhiều lần trong 1 đêm. Bóng đè thường xuất hiện khi bạn sắp thức giấc hoặc  xuất hiện ngay khi bạn vừa mới ngủ. Triệu chứng chính của hiện tượng bóng đè là nhất thời không thể cử động hay nói năng được. Đây là điều rất đáng sợ, đặc biệt là khi nhận thức của bạn hoàn toàn tỉnh táo. Thậm chí, “rùng rợn” hơn, khi bạn còn có cảm giác rất “thật” rằng có ai đó đang trong phòng riêng của mình trong suốt khoảng thời gian đó. Những kiểu ảo giác này rất hay xảy ra và làm bạn rất khiếp sợ. Hiện tượng “tê liệt” này kéo dài trong khoảng thời gian khó xác định, có thể vài giây hay vài phút và sau đó mọi hoạt động của bạn sẽ trở về bình thường, nhưng trong một tâm trạng hoang mang lo sợ. Sau khi trải qua một lần bị bóng đè, bạn có thể cảm giác rất buồn và lo lắng. Nhưng bạn hãy yên tâm là: hiện tượng bóng đè không gây nguy cơ nào cho sức khỏe của bạn. Trên thực tế, có người thường gặp hiện tượng bóng đè liên tục, trái lại, nhiều người chỉ trải qua hiện tượng bóng đè này 1 - 2 lần trong suốt cuộc đời.
Phương pháp điều trị và phòng tránh bóng đè
Khi bạn chỉ bị bóng đè 1 lần, tuy bạn có tâm trạng sợ hãi nhưng thực ra không ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn. Theo thời gian, bạn sẽ quên dần và cũng không thấy bị bóng đè nữa, như thế thì không cần điều trị. Nhưng nếu bóng đè vẫn tiếp tục tái xuất hiện và gây ra nhiều phiền phức cho bạn, bạn nên đi khám bác sĩ. Khi đó, bác sĩ có thể cho bạn dùng thuốc an thần trong thời gian ngắn, chẳng hạn thuốc chống trầm cảm ba vòng thường là clomipramin. Thuốc chống trầm cảm tác động lên thần kinh cũng được dùng điều trị bệnh bóng đè có hiệu quả. Thuốc có tác dụng  làm giảm bớt số lần và độ sâu của pha ngủ nhanh nên có thể ngăn chặn sự bất động khi bạn thức dậy hoặc khi bạn vừa chìm vào giấc ngủ, giúp giảm những ảo giác cho bạn. Bạn có thể phải điều trị trong thời gian 1 - 2 tháng để xem thuốc có thể giúp cải thiện tình hình hay không.
Bóng đè cũng là một triệu chứng của những bệnh gây rối loạn giấc ngủ như là một rối loạn gây ra chứng ngủ rũ: bệnh nhân bị những cơn buồn ngủ không thể cưỡng lại vào ban ngày và không thể giữ cho bản thân tỉnh táo quá vài giờ. Tuy trên thực tế không có phương pháp điều trị cụ thể cho chứng ngủ rũ nhưng tình trạng này có thể được cải thiện sau khi dùng thuốc.
 Để cải thiện tình hình, bạn cần thực hiện các biện pháp phòng tránh bóng đè như sau: hàng ngày phải đảm bảo bạn ngủ đủ giấc từ 7 - 8 giờ đối với người trưởng thành. Để giữ cho thời gian biểu sinh hoạt và nghỉ ngơi hợp lý, bạn nên đi ngủ vào một giờ nhất định vào buổi tối và thức dậy đúng giờ vào buổi sáng, đồng thời cải thiện môi trường ngủ của bạn: nên tạo ra một không gian ngủ yên tĩnh và thoải mái nhất. Nếu có điều kiện dùng máy điều hòa nhiệt độ thì chỉnh nhiệt độ phòng khi ngủ khoảng 26-28oC. Giường ngủ cần sạch sẽ, êm ái, thoải mái. Bạn cần tập thể dục thường xuyên hàng ngày để giúp ăn ngon, ngủ yên nhưng lưu ý là không tập trước khi đi ngủ. Giảm uống trà, cà phê và những chất có chứa caffein trước khi ngủ tối từ 3-5 giờ. Không nên ăn quá no hay uống rượu bia trước khi ngủ. Bỏ thuốc lá, thuốc lào vì chất nicotin trong thuốc có thể kích thích làm bạn khó ngủ và hay mộng mị. Nên ngủ trưa từ 15 - 30 phút mỗi ngày giúp ổn định thần kinh và tốt cho sức khỏe.                 
  BS. Ninh Hồng

Xơ vữa động mạch là gì?

Xơ vữa động mạch là tổn thương trong đó một khối vật chất bất thường tạo thành bên trong động mạch, nó bám lên thành động mạch làm cho lòng động mạch bị hẹp lại, hậu quả là sự vận chuyển máu trong cơ thể bị cản trở, thiếu máu nuôi các bộ phận cơ thể do động mạch chi phối.
Tại sao lại bị xơ vữa động mạch?
Xơ vữa động mạch là sự thu hẹp của động mạch do các mảng bám được tạo thành trong lòng mạch máu. Xơ vữa động mạch có thể xảy ra, ảnh hưởng đến bất kỳ động mạch nào trong cơ thể, bao gồm cả động mạch ở tim, não, cánh tay, chân, xương chậu và thận.
Đến nay, khoa học vẫn chưa biết rõ nguyên nhân gây xơ vữa động mạch. Các nghiên cứu cho thấy rằng, xơ vữa động mạch là một bệnh tiến triển chậm và phức tạp có thể bắt đầu trong thời thơ ấu, phát triển nhanh hơn khi cao tuổi. Xơ vữa động mạch có thể bắt đầu xảy ra khi các lớp bên trong của động mạch bị tổn thương bởi các yếu tố: hút thuốc lá thuốc lào; số lượng một số chất béo và cholesterol trong máu tăng hơn bình thường; bị bệnh tăng huyết áp; mức đường trong máu cao hơn bình thường; hít phải khói thuốc lá rất nhiều sẽ làm trầm trọng thêm và đẩy nhanh sự phát triển của xơ vữa động mạch trong động mạch vành, động mạch chủ và động mạch ở chân; người ít hoạt động thể chất; người có thói quen ăn ít rau, ăn nhiều chất béo bão hòa, ăn mặn, ăn quá ngọt; người có cha mẹ hoặc anh chị em bị xơ vữa động mạch; bệnh nhân bị bệnh tim mạch; ô nhiễm không khí… Do thành mạch bị tổn thương, cùng với thời gian, chất béo, cholesterol, tiểu cầu, tế bào mảnh vỡ và canxi lắng đọng trên thành động mạch. Các chất này có thể kích thích các tế bào của thành động mạch tạo ra các chất khác tiếp tục làm dày khối xơ vữa dẫn đến có nhiều tế bào tích tụ trong lớp áo trong của thành động mạch, nơi có tổn thương xơ vữa động mạch. Các tế bào này tích lũy lại, trong đó có nhiều tế bào vỡ ra. Đồng thời, chất béo cũng đọng lại xung quanh các tế bào này. Các mảng xơ này có thể dính lại với nhau hình thành cục máu đông.
Xơ vữa động mạch là gì? 1
 Mảng xơ vữa hình thành trong lòng động mạch.
Biểu hiện của xơ vữa động mạch
Xơ vữa động mạch là một bệnh diễn tiến chậm, âm thầm và thường không có dấu hiệu ban đầu nên hầu hết người bệnh đều không biết mình có bệnh cho đến khi động mạch bị hẹp một cách trầm trọng hoặc bị tắc hoàn toàn một động mạch. Nguy hiểm hơn, đến khi phải đi cấp cứu khẩn cấp như đau tim hay đột quỵ bệnh nhân mới biết mình bị bệnh. Một số người chú ý đến sức khỏe có thể phát hiện được các triệu chứng như đau ngực hoặc phát ban. Nhìn chung, các triệu chứng của bệnh phụ thuộc vào động mạch bị tổn thương. Xơ vữa động mạch cảnh là động mạch cung cấp máu lên não, khi bị hẹp có thể bị đột quỵ với triệu chứng: đột ngột suy yếu, khó thở, nhức đầu, nói khó, tê liệt, nhìn khó một mắt hoặc cả hai mắt.
Xơ vữa động mạch vành là động mạch cung cấp máu nuôi tim, nếu sự cung cấp máu đến tim bị thiếu, có thể gây đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, với các triệu chứng: nôn mửa, hốt hoảng, đau ngực, ho…
Xơ vữa động mạch thận là động mạch cung cấp máu đến thận, nếu việc cung cấp máu bị hạn chế sẽ gây tổn thương thận mạn tính. Bệnh nhân có các triệu chứng: mất cảm giác ngon miệng, phù bàn tay và bàn chân, khó tập trung…
Xơ vữa động mạch ngoại biên là các động mạch chân tay, hay gặp ở động mạch chân bị xơ vữa. Các triệu chứng phổ biến nhất là đau chân ở một hoặc cả hai chân, vị trí ở bắp chân, đùi và mông. Tính chất đau: nặng nề ở chi dưới, chuột rút, các cơ bắp chân. Các triệu chứng khác có thể là: rụng lông chân, ở nam có rối loạn cương dương, tê ở chân, màu sắc của da chân thay đổi, chân yếu…
Khám thấy âm thổi đó là một dấu hiệu của mạch máu bị hẹp dẫn tới việc thay đổi dòng chảy trong mạch; giảm huyết áp ở chi; phình mạch ở gối và bụng; mất mạch hoặc giảm cường độ của mạch; siêu âm, chụp cắt lớp thấy tổn thương xơ vữa động mạch. Do thiếu máu làm cho vết thương ở chi lâu lành…
Xơ vữa động mạch là gì? 2
 Bỏ hút thuốc để phòng tránh xơ vữa động mạch.
Điều trị và phòng bệnh
Mục đích điều trị nhằm làm giảm triệu chứng, giảm các yếu tố nguy cơ gây xơ vữa động mạch; giảm nguy cơ hình thành cục máu đông; phòng ngừa xơ vữa động mạch… Bệnh nhân cần thực hiện ăn uống lành mạnh, năng hoạt động thể chất, phòng tránh thừa cân. Điều trị nội khoa: dùng thuốc để ngăn chặn sự hình thành mảng xơ vữa, dùng các thuốc để giảm cholesterol, thuốc hạ huyết áp…
Phẫu thuật để điều trị các trường hợp xơ vữa động mạch nặng, nong mạch vành hoặc bắc cầu động mạch vành…
Phòng tránh xơ vữa động mạch bằng các biện pháp: ăn thực phẩm giàu chất xơ, giảm ăn mặn, giảm các loại thức ăn có nhiều cholesterol; hạn chế uống rượu bia; tập thể dục đều đặn hàng ngày; bỏ hút thuốc lá thuốc lào; tránh căng thẳng về thể chất và tinh thần…           
ThS. Nguyễn Mạnh Hà

10 nguyên tắc giúp sĩ tử nhớ lâu

Nhớ lâu, nhớ nhiều, nhớ nhanh hay nói một cách khác: trí nhớ tốt, là những điều mà ai cũng muốn có, nhất là đối với các sĩ tử đang gấp rút chuẩn bị cho kỳ thi đại học năm nay. Để có được trí nhớ tốt, ít ai biết rằng, ngoài khả năng “trời phú” thì việc rèn luyện và phương pháp tốt cũng góp phần cực kỳ quan trọng.
Các hình thức của trí nhớ
Trí nhớ bao gồm hai hình thức chính: trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn. Trí nhớ ngắn hạn là trí nhớ đối với sự vật, hiện tượng vừa xảy ra cách đây vài phút, vài giờ, vài ngày. Loại trí nhớ này dễ bị ảnh hưởng bởi các sang chấn như bị chấn thương sọ não, bị tai biến mạch máu não, viêm não... Và khi trí nhớ ngắn hạn không tốt sẽ ảnh hưởng đến trí nhớ dài hạn. Trí nhớ dài hạn là loại hình trí nhớ đối với các sự vật, hiện tượng, những điều bạn đã trải qua trong nhiều ngày, nhiều tháng hoặc một thời gian rất dài trước đó như những kỷ niệm thời thơ ấu, hình ảnh ông bà đã mất... Đây là những thông tin cũ, được lặp đi lặp lại nhiều lần hoặc có những ấn tượng sâu sắc khiến bạn không bao giờ quên. Trí nhớ dài hạn là trí nhớ có khuynh hướng không bị mất đi sau những sang chấn hoặc bệnh tật.
10 nguyên tắc giúp sĩ tử nhớ lâu  1Cần hết sức tập trung để ghi lại những điều cần nhớ.
Ngoài hai loại hình trí nhớ trên, còn có loại hình trí nhớ ngay tức thì (đang hoạt động) ở thời điểm hiện tại, ví dụ như bạn đang tìm kiếm một địa chỉ, đang tìm kiếm một số điện thoại bạn vừa được người khác cung cấp hay bạn đang làm tính nhẩm cộng trừ nhân chia. Người ta cũng nói đến loại trí nhớ thứ tư là loại trí nhớ trong tương lai. Đây là khả năng nhớ một việc gì đó trong tương lai như nhớ đến một cuộc hẹn, đi nghỉ mát, bay một chuyến ra nước ngoài...
10 nguyên tắc giúp nhớ tốt
Nguyên tắc thứ nhất là bạn phải hết sức tập trung để ghi lại những điều cần nhớ: Nếu bạn không tập trung, chỉ nhìn và nghe dưới dạng tiềm thức (dưới ý thức) hay là ghi nhận thông tin một cách lơ đễnh, bạn sẽ không thể nhớ nhanh và lâu. Trong khi tập trung để nhớ, cố gắng tìm được những gì đặc biệt nhất ở điều cần nhớ ví dụ như anh bạn vừa gặp có dáng người cao quá khổ, đường phố lạ có nhiều hoa màu đỏ...
10 nguyên tắc giúp sĩ tử nhớ lâu  2Cấu trúc não.

Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc lặp lại: Bạn phải thường xuyên lặp lại những điều muốn nhớ để tạo “lối mòn” trong não, hay nói một cách khác: biến trí nhớ ngắn hạn thành trí nhớ dài hạn. Một người dù nhớ tốt đến đâu cũng sẽ quên ngay sau vài ngày những điều mà không được lặp lại trong ký ức. Đây chính là mấu chốt của việc học những môn “thuộc lòng” như ngoại ngữ, những bài văn, câu thơ mẫu. Văn ôn, võ luyện chính là một cách luyện trí nhớ tạo phản xạ có điều kiện để có thể nhớ lâu, nhớ dai. 
Nguyên tắc thứ ba là nguyên tắc tạo “dấu ấn”: Khi bạn định nhớ một sự vật, hiện tượng gì đó, bạn cố gắng tạo dấu ấn bằng cách tìm những điều đặc biệt ở chúng, ví dụ như bạn có một số điện thoại cần nhớ là 827391, bạn sẽ nhớ rất nhanh nếu tìm ra đặc điểm của dãy số trên là tổng mỗi nhóm 2 số liền nhau bằng 10 (8 + 2 = 7 + 3 = 9 + 1) và số lớn 8, 7, 9 luôn đứng trước số nhỏ. Cũng có thể nhớ theo kiểu “thu gọn” thông tin ví dụ như câu “How are you?” bạn thu gọn bằng các chữ cái đầu tiên: “HAY”?.
10 nguyên tắc giúp sĩ tử nhớ lâu  3Một trong những nguyên tắc để nhớ lâu là học cách suy luận: nhớ một ý chính, từ đó suy ra những điều còn lại.

Nguyên tắc thứ tư là nguyên tắc “liên hệ”: Khi bạn định nhớ điều gì, bạn hãy cố gắng liên hệ điều đó có liên quan đến những gì khác không, ví dụ chiếc áo này tôi được tặng dịp sinh nhật...
Nguyên tắc thứ năm là nguyên tắc va chạm: Bạn sẽ phải chủ động tạo tần số va chạm với thông tin để tăng khả năng nhớ, ví dụ như học ngoại ngữ bạn phải tiếp xúc và nói nhiều, học từ vựng bằng phiếu từ vựng hoặc thậm chí viết đầy các từ mới treo ở những chỗ dễ quan sát hàng ngày.
Nguyên tắc thứ sáu là nguyên tắc hiểu biết cặn kẽ về thông tin: Bạn không thể nhớ lâu nếu bạn không hiểu về thông tin bạn cần phải nhớ. Điều này thật sự có ý nghĩa nếu như bạn cần phải học những môn có tính suy luận cao như toán, các đặc điểm bệnh lý trong y học. Đối với những lĩnh vực này, bạn không thể nhớ nổi vì lượng thông tin rất dài và khó nhớ.
Nguyên tắc thứ bảy là nguyên tắc “thực hành” hay cảm nhận thông tin càng rõ ràng, cụ thể càng tốt thông qua các giác quan. Cổ nhân có câu “trăm nghe không bằng một thấy”, sau khi đã “thấy” rồi, bạn lại được tự tay làm thì sẽ không bao giờ quên. Nguyên tắc này cực kỳ quan trọng đối với những môn học phải thực hành nhiều như ngoại ngữ, tin học. Bạn có thể ngồi cả ngày học một vài mẫu câu rồi sau đó vẫn quên nhanh chóng, nhưng chỉ cần một vài lần tiếp xúc với người bản ngữ và  nghe họ nói, bạn sẽ nhớ cả đời.
Nguyên tắc thứ tám là nguyên tắc suy luận: Theo nguyên tắc này, bạn chỉ cần nhớ một ý chính của điều cần nhớ, từ đó suy ra những điều còn lại, ví dụ như bạn chỉ cần nhớ từ “nước biển”, những điều suy ra là “mặn”, “không thể uống được”, “để làm muối”...
Nguyên tắc thứ chín là nguyên tắc hỗ trợ: Bạn nên sử dụng các công cụ hỗ trợ cho trí nhớ như điện thoại nhắc lịch, thời khóa biểu, sắp xếp theo thứ tự quan trọng những việc cần làm...
Nguyên tắc thứ mười - là nguyên tắc quan trọng nhất - nguyên tắc tạo đam mê: Khi bạn đã tìm được niềm thích thú, nỗi đam mê đối với mỗi môn học, mỗi sự vật, hiện tượng, mỗi con người, đương nhiên, việc nhớ những thông tin có liên quan là chuyện cực kỳ dễ dàng và đơn giản thông qua việc bạn sẽ thực hiện bằng mọi nguyên tắc (trong đó có 9 nguyên tắc ở trên) để nhớ... càng lâu càng tốt.
TS.BS. Vũ Đức Định

Cách phòng và xử trí đột quỵ do nắng nóng

Mới đầu mùa hè nhưng nhiệt độ đã tăng rất cao, ở ngoài trời có khi lên tới 41 - 420C. Nhiệt độ cơ thể của chúng ta luôn ổn định ở mức chung quanh 370C nên khi nhiệt độ môi trường tăng quá cao sẽ ức chế các quá trình chuyển hóa của cơ thể, làm tổn thương mô tế bào...
Thế nào là đột quỵ do nắng nóng?
Đột quỵ do nắng nóng (ĐQDNN) là tình trạng thân nhiệt trung tâm cao trên 400C, da nóng, khô kèm theo các rối loạn về thần kinh trung ương như run cơ, co giật và thậm chí có thể hôn mê. ĐQDNN xảy ra khi cơ thể tiếp xúc kéo dài với môi trường có nhiệt độ cao như ở ngoài trời nắng nóng hoặc phải làm việc trong các lò gốm sứ, lò rèn, lò luyện kim... trong điều kiện độ ẩm không khí cao, không thông thoáng. Đây được gọi là ĐQDNN không do gắng sức, thường xảy ra với người già yếu, người có các bệnh mạn tính như bệnh tim, phổi... ĐQDNN cũng xảy ra ở những người phải làm việc với cường độ cao liên tục dưới trời nóng ẩm như các vận động viên chạy việt dã, đua xe đạp hoặc nông dân lao động chân tay trên những cánh đồng. Đây được gọi là đột quỵ nắng nóng do gắng sức. Dựa vào cơ chế sinh bệnh học, ĐQDNN được hiểu là một tình trạng tăng thân nhiệt gây đáp ứng viêm hệ thống dẫn tới tổn thương nhiều cơ quan trong cơ thể, trong đó tổn thương thần kinh là nổi bật.
Cách phòng và xử trí đột quỵ do nắng nóng 1
 Làm việc dưới trời nắng cần mang mũ nón, trang bị bảo hộ chống say nắng.
Bệnh cảnh do nắng nóng rất đa dạng, biểu hiện từ mức độ nhẹ có thể tự khỏi sau khi nghỉ ngơi (say nắng nóng) đến mức độ nặng, nguy kịch có thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề về thần kinh, mặc dù được điều trị tích cực (kiệt sức, ĐQDNN).
Một số yếu tố nguy cơ làm tăng nguy cơ ĐQDNN, đó là nhóm đối tượng trẻ em và người già; một số người có đáp ứng kém hay kém thích nghi với nhiệt độ cao; phải làm việc hoặc tập luyện quá lâu ở môi trường nắng nóng; tiếp xúc đột ngột với môi trường nắng nóng; thiếu các trang bị bảo hộ ngăn ngừa nắng nóng; người đang sử dụng một số thuốc như thuốc lợi tiểu gây mất nước, điện giải, các thuốc chẹn beta giao cảm điều trị tăng huyết áp, các thuốc chống trầm cảm loại ba vòng, các chất ma túy loại amphetamines hoặc cocaine và cuối cùng là người đang có các bệnh mạn tính như bệnh tim, bệnh phổi, người béo phì, người cơ thể không được khỏe hoặc ăn uống không đầy đủ.
Biểu hiện của đột quỵ do nắng nóng                                                      
Nạn nhân của ĐQDNN là những người đi nắng lâu và không có phương tiện che đỡ hay phải tiếp xúc với nguồn nhiệt cao và lâu (gần các lò nung vôi, gốm...) hoặc phải vận động gắng sức trong môi trường nắng nóng kéo dài.  Các biểu hiện ban đầu luôn có như vã mồ hôi, đau đầu, khó chịu, mặt đỏ, đỏ da toàn thân, cảm giác nghẹt thở, thở nhanh, nông, có khi đau bụng, nôn mửa, sau đó xuất hiện chóng mặt, hoa mắt, mặt tái nhợt, mạch nhanh, ngất lịm, chuột rút, đái ít, sốt cao có khi tới 440C, da và niêm mạc khô, trụy mạch. Cá biệt có trường hợp có tụ máu dưới màng cứng và trong não. Nặng hơn, nạn nhân sẽ có biểu hiện thương tổn thần kinh như li bì, giãy giụa, mê sảng, hôn mê và có thể tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.
Cách phòng và xử trí đột quỵ do nắng nóng 2
 Uống đủ nước khi trời nóng, một cách để phòng đột quỵ.
Xử trí thế nào?
Trước một nạn nhân bị ĐQDNN, việc đầu tiên là phải tìm cách hạ thân nhiệt xuống dần từng bước và càng sớm càng tốt bằng các biện pháp như đưa nạn nhân vào chỗ mát, cởi hết quần áo; chườm lạnh bằng nước đá khắp người hoặc phun nước lạnh hay nhúng cả người nạn nhân vào bể nước lạnh. Khi nhiệt độ xuống 380C, đưa nạn nhân vào chỗ thoáng mát. Sau đó có thể  cho nạn nhân uống aspirin, hoặc aminazin rồi nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế gần nhất để tiếp tục theo dõi điều trị.
Tại cơ sở y tế, nạn nhân sẽ được hồi sức hô hấp, tuần hoàn, điều chỉnh thăng bằng điện giải, kiềm toan, truyền dịch khoảng 5 lít (đường 5%; NaCl 0,9%), chống suy thận cấp do tiêu cơ vân. Khi cần, phải tiến hành lọc máu cho nạn nhân và điều chỉnh rối loạn các tạng khác: suy gan, rối loạn đông máu, chăm sóc,  nuôi dưỡng đầy đủ... cho tới khi nạn nhân phục hồi.
Phòng chống đột quỵ do nắng nóng
Mặc dù nguy hiểm, nhưng ĐQDNN hoàn toàn có thể phòng tránh được bằng các biện pháp đơn giản như tránh đi lâu, làm việc kéo dài ngoài trời khi trời nắng to; tránh làm việc lâu khi gần các nguồn nhiệt nóng như lò nung vôi, gốm, lò rèn; mang đủ mũ nón, trang bị bảo hộ lao động cần cho phòng tránh nắng nóng; uống đủ nước, muối khi làm việc trong môi trường nắng nóng; cải thiện môi trường làm việc: thông gió, thông khí đảm bảo; không làm việc hoặc có những hoạt động gắng sức khi cơ thể mệt mỏi, ăn uống không đầy đủ.            
TS.BS. Vũ Đức Định

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons